Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2020

CẢM ƠN NHỮNG CHIẾN SĨ ÁO TRẮNG


Trong tình cảnh rất khó khăn hiện nay, khi tôi đang bình an vô sự ở nhà, thì có bao người vẫn đang gồng mình chiến đấu hết mình ngoài kia. Đó là những chiến sĩ áo trắng, những thiên thần trong lòng tôi. Dù không thể bước vào trận chiến giống như họ, nhưng tôi cũng cảm giao phần nào tình cảnh khốn đốn của những con người ấy. Tôi cảm thấy rất cảm kích và thán phục những y bác sĩ đang miệt mài làm việc ở tuyến đầu. Họ đang ra sức chiến đấu giữa vòng vây của một kẻ địch vô hình mang tên Covid. Tôi mong muốn họ cũng có thể cảm nhận tấm lòng biết ơn của tôi cũng như rất rất nhiều người dành riêng cho họ.

Chia sẻ với một vài người bạn là các y bác sĩ trong bệnh viện, tại khu cách ly, tôi chợt nhận ra những chứng nhân âm thầm trong đạo ngoài đời ngay giữa xã hội này. Họ đã hi sinh bao điều, từ bỏ nhiều thứ. Chỉ cần vài phút thôi, trong những bộ quần áo bảo hộ dày cộm, cả người họ đã ướt đẫm mồ hôi “như chuột lột”. Một cảm giác thật khó chịu khi làm việc, lúc chăm sóc bệnh nhân. Những bữa ăn tranh thủ, những giấc ngủ vội vàng cứ lững lờ trôi. Mọi thứ quanh Cô Vy đang hành hạ, vắt kiệt sức lực của họ. Hôm nay đã ngót nghét “mùng 80 Tết” của bao người trong số chúng ta, thì rất nhiều người trong số họ đã “mất trắng” cái Tết năm nay. Họ liều mình tình nguyện xung phong đi tuyến đầu, đổ bao công sức lấy mẫu, xét nghiệm cho ra kết quả, hỏa tốc tìm cách khắc chế con virus tàn bạo kia. Đâu còn cảnh đoàn viên với gia đình, họ cũng lo tự cách ly, luôn phải sống trong cảnh xa cửa xa nhà.

“Thương Tổ Quốc, em hãy đợi
Hết dịch rồi, anh sẽ lại về thôi…” (Nếu anh không về – Vũ Tuấn)

Bạn tôi chia sẻ, họ đã từng tuyệt vọng, chán nản vì những kết quả chẳng mấy khả quan. Ở đấy, giữa ổ dịch, có quá nhiều cảm xúc đang “lúc nhúc, rúc rỉa” sức lực, nỗ lực ngày đêm của họ. Đối diện với sự sống và cái chết của bệnh nhân bao năm nay vốn đòi hỏi nơi họ một cái đầu rất tỉnh táo và con tim đủ tình thương; nhưng giờ đây, mọi chuyện lại trở nên khó khăn, khốn đốn hơn rất nhiều. Áp lực tứ bề đè nặng trên đôi vai “con người” của họ. Lạc lõng, cô đơn giữa vùng dịch đã hơn một lần kéo ghì ý chí của họ xuống. Những lắng lo cho bản thân, cho thân nhân, và cả đồng nghiệp đầy ứ nơi họ. Nỗi sợ hãi cứ rình rập, lập lờ quanh họ trong các khu cách ly, ngay tại ổ dịch…. Có lẽ trên đời này có bao nhiêu cảm giác khổ đau thì họ cứ thay nhau nếm trải. Bạn tôi cũng chia sẻ, có nản có chán đấy, nhưng họ vẫn đứng lên tiếp tục chiến đấu, nung nấu hy vọng cho bao người. Họ tiếp tục cống hiến để biến ước mơ của bao người thành hiện thực. Có vẻ như trong những tháng ngày cùng cực này, ngoài những người bị nhiễm Covid, thì mấy ai đau bằng họ, khổ như họ. Thế mà, mấy người trong họ kêu than, thở dài vì những nỗi khổ niềm đau ấy. Tưởng như cả nhân loại đang vác một cây Thánh Giá quá nặng mang tên Cô Vy, ngỡ như chúng ta đang cùng đi vào Cuộc Thương Khó não nề của Chúa, thì có lẽ những người đi đầu theo dấu chân Đức Giê-su chính là họ.

Những con người ấy vô tình trở thành những hình mẫu lý tưởng, những người thầy ưu tú về lẽ sống, về ý nghĩa cuộc đời cho tôi. Trong chính nghịch cảnh hiện tại, họ đã khám phá ra ý nghĩa của cuộc sống nơi bản thân mình. Ở nơi ấy, giữa lúc ngặt nghèo, khắc nghiệt của bệnh dịch, họ cũng chất đầy những cảm giác trống rỗng, không thiếu những vết khuyết bên trong, đôi khi bị mắt kẹt trong lơ lửng của tuyệt vọng, chán nản của niềm tin. Dường như họ luôn bị dồn vào tình thế căng thẳng. Một bên là bổn phận, là những việc đã hoàn thành, một bên là những việc vẫn còn phải hoàn thành, là lý tưởng, là đam mê trong nghề của họ. Lúc ấy, tấm lòng từ mẫu của vị lương y tiềm ẩn bên trong con người họ mới dần mở ra hơn. Ngay giữa hiểm nguy, họ hiểu hơn nhiều điều về trách nhiệm với xã hội, với lương tâm của mình. Họ cần thực hiện nhiệm vụ nào? Điều ấy hướng tới mục tiêu gì? Nó dành cho ai? Chính trong tình thế khốn khó này, họ đã “vượt lên cái tôi hạn hẹp” của chính mình. Gạt bỏ ý riêng để hướng đến những gì thiêng liêng, cao quý. Ở nơi ấy, hình như họ vẫn hướng tới, và được định hướng đến một điều gì đó, một ai đó vượt lên trên bản thân của họ. Điều ấy đang thôi thúc họ chạy đua với mọi thứ để mau khử trừ dịch bệnh, hoàn thành nhiệm vụ cao quý của mình. Điều này cũng thúc đẩy họ tới miền đất của lòng bác ái, của chân lý, của cái đẹp ngay giữa những hoàn cảnh tang thương. Đặc biệt là cảm nhận tình yêu lớn lao vô hình, thấu hiểu tình cảm của thân hữu, của đồng bào dành cho họ. Từ ấy, họ khám phá sức mạnh ẩn sâu lâu nay nơi mình. Nhờ thế, những con người ấy dễ dàng dành tình yêu ấy cho bệnh nhân, truyền sức mạnh rất lớn cho những người đang quằn quại trên giường bệnh. Hơn nữa, trong chính tình cảnh nghiệt ngã ấy, họ tìm thấy ý nghĩa của khổ đâu. Thật thế, đôi khi họ không thể kiểm soát được hoàn cảnh, tình hình, nhưng họ đã khám phá ra sức mạnh nội tại có thể biến bi kịch thành chiến thắng. Giả như một ai trong số những người mà họ yêu thương có thể thế chân cho họ, thì câu trả lời chắc chắn sẽ là không. Bởi những chiến sĩ áo trắng can trường ấy đã chọn gồng gánh thay cho chồng cho vợ và con cái. Thay vì chọn chỗ sung sướng, tìm nơi né tránh, họ đã tìm thấy ý nghĩa thực sự của đời mình trong đau khổ. Đó là bài học đắt giá dành cho tôi. Nhờ họ, tôi mới ngộ ra, tôi chẳng thể thay đổi hoàn cảnh được nhiều trong đau khổ, nhưng điều ấy đang thử thách tôi, đang thách thức tôi thay đổi chính mình. Đâu là ý nghĩa cuộc sống của tôi trong thời điểm hiện tại?

Ở nhà, tôi rất muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến những chiến sĩ áo trắng can trường ngoài kia. Với lòng biết ơn, tôi thấy họ là cảm hứng cho cuộc sống của mình khi đứng trước khổ đau, là những tấm gương sáng mà tôi cần mang theo bên mình. Họ quả là những chứng nhân sáng láng giữa bầu trời u ám của xã hội này. Họ xứng đáng là những người môn đệ đích thực của Đức Giê-su mà tôi hằng khát khao. Trong tâm tình tri ân, tôi cũng muốn làm gì đó theo gương họ. Có lẽ, cứ kiên trì, Chúa sẽ hé mở cho tôi biết sẽ phải làm gì để biến ước mơ của chúng ta sớm thành hiện thực.

Nếu như thời gian có hồi ảnh, không gian có vọng thanh, thì những con người ấy vẫn kịp để lại dấu ấn trong cát bụi đời người với những giá trị thật cao quý trong cuộc sống ngắn ngủi này. Mai đây, họ sẽ có thể hưởng trọn niềm vui, niềm tự hào vì đã sống một cuộc sống trọn vẹn nhất trong thời đại dịch này.

Lyeur Nguyễn

HỌC TẬP TRONG MÙA ĐẠI DỊCH


(Bài viết của tiến sĩ Brandon Warmke và tiến sĩ Justin Tosi)

Vào ngày 22/10/1939 – một tháng sau khi Đức quốc đánh chiếm Ba Lan và Thế Chiến thứ II nổ ra – C.S. Lewis, một nhà tiểu thuyết và cũng là một nhà văn lừng danh người Anh đã trình bày một bài diễn văn tại thành phố Oxford với nhan đề “Học tập trong thời chiến”, với mục đích chính yếu là bảo vệ tầm quan trọng của việc theo đuổi học thuật trong thời kỳ khủng hoảng toàn cầu. Làm thế nào để có thể tiếp tục học tập trong lúc khó khăn và căng thẳng như thế. Đại dịch Covid-19 đã gây ra nhiều khó khăn cho cả học sinh lẫn các giáo viên, thông điệp của Lewis có một mối liên hệ đặc biệt với bối cảnh hiện tại của chúng ta.

Lewis bắt đầu với việc nhắn nhủ các sinh viên rằng:

“Trường đại học là một cộng đồng theo đuổi việc học tập. Là các sinh viên, các bạn sẽ được hy vọng để trở thành: “các triết gia, các nhà khoa học, các học giả, các nhà phê bình hoặc các sử gia.” Thoạt nhìn, đây có vẻ là một việc làm lố bịch trong [thời đại dịch]…Tại sao và làm sao chúng ta lại có thể tiếp tục cảm thấy hứng thú với những việc này một cách điềm nhiên như vậy, trong khi cuộc sống của bao người [hàng triệu người trên khắp thế giới] đang trong cảnh hoang mang lo sợ? Đó chẳng phải là thái độ kiểu ‘cháy nhà hàng xóm’ hay sao?”

Lúc này, nhiều người trong giới tri thức (học sinh cũng như giáo viên) đã được yêu cầu làm việc tại nhà để làm chậm sự lây lan của dịch Covid-19. Vì đối với đại đa số chúng ta, điều tốt nhất chúng ta có thể làm, đơn giản là ở nhà và cố gắng làm công việc của mình. Trong bối cảnh đó, thật kỳ quặc khi ngồi xuống và thực hiện các nghiên cứu của riêng mình, cho dù đó là việc nghiên cứu một tác phẩm Shakespeare hay viết một bài luận về Ý Chí Tự Do. Điều này có vẻ lạc lõng và dường như là không thích hợp.

Lewis nói tiếp:

“Tôi nghĩ điều quan trọng là chúng ta phải cố gắng nhìn tai họa hiện tại trong một viễn cảnh thật của nó. [Đại dịch] không tạo ra một bối cảnh hoàn toàn mới; nó chỉ đơn giản là làm cho cuộc sống của con người trở nên tồi tệ hơn mà thôi, để chúng ta không còn có thể phớt lờ những sự tồi tệ thường nhật vốn đã tồn tại trước đó thêm nữa. Đời sống của con người vốn luôn đứng trước bờ vực thẳm…Nếu chúng ta đã trì hoãn việc tìm kiếm tri thức và cái đẹp cho đến khi chúng ta được an toàn, thì cuộc tìm kiếm ấy đã chẳng bao giờ được khởi sự.

Chúng ta đã lầm khi chúng ta so sánh [đại dịch] với “cuộc sống bình thường”. Cuộc sống chưa bao giờ là bình thường cả. Ngay cả khi có những khoảng thời gian mà chúng ta nghĩ rằng đó là lúc thanh bình nhất, giống như thế kỷ 19 vậy, ai ngờ khi xem xét kỹ lưỡng hơn, ta lại nhận ra rằng thời đại ấy đầy dẫy những khủng hoảng, lo sợ, khó khăn và cấp bách. Những lý do chính đáng để dừng tất cả các hoạt động văn hóa thuần túy chưa bao giờ thiếu cả, nhưng chỉ cho đến khi có một vài nguy cơ khiến nó buộc phải dừng lại hoặc có các lời kêu than về sự bất công nảy sinh. Nhưng đã từ rất lâu, nhân loại đã chọn cách phớt lờ những lý do chính đáng này.

Những con côn trùng đã chọn một con đường khác: trước tiên, chúng tìm lợi ích vật chất và sự an toàn nơi các tổ ong, tất nhiên, sau đó chúng đã được toại nguyện. [Con người] thì khác. Họ phát kiến ra các định lý toán học trong những thành phố bị vây hãm, tiến hành các cuộc tranh luận siêu hình học trong các tử ngục, pha trò trên các giàn hỏa thiêu, thảo luận về những bài thơ mới nhất khi tiến tới những bức tường ở Quebec và chải tóc trước trận địa Thermopylae. Đây không phải sự phô trương nhưng là bản chất của chúng ta.”

Ở đây, Lewis nói rằng thảm họa không tạo ra một bối cảnh hoàn toàn mới. Điều đó không có nghĩa là không có bất kỳ sự khác biệt nào hay là chúng ta cứ tiếp tục công việc của mình y như lúc chưa có khủng hoảng. (Tất nhiên, sự khác biệt là: làm ơn hãy ở nhà!) Lewis có ý nói rằng nếu công việc của chúng ta thực sự quan trọng và thiết yếu ngay cả khi cuộc khủng hoảng chưa xảy ra, thì nó vẫn nên được tiếp tục khi sự khủng hoảng đang hoành hành. Không phải lúc nào chúng ta cũng ý thức được sự mong manh của phận người. Lúc này, trong trận đại dịch, sự ý thức ấy có thể trở nên rõ nét hơn trong tâm trí chúng ta, nhưng sự mong manh của chúng ta vẫn luôn ở đó. Tuy nhiên, Lewis nói rằng đó chính là bản chất của chúng ta, bản chất theo đuổi Chân, Thiện, Mĩ ngay cả khi phải đối mặt với sự nguy hiểm hay những điều không chắc chắn. Bản chất của chúng ta không chỉ theo đuổi những điều như thế, nhưng những cuộc kiếm tìm ấy còn thực sự có giá trị đối với chúng ta.

Trong thực tế, Lewis tiếp tục nói rằng việc học của chúng ta là một nghĩa vụ:

“Với một số người, học tập là một nghĩa vụ. Đừng để trạng thái hoảng loạn và cảm xúc của bạn khiến bạn nghĩ về tình trạng khó khăn mà bạn đang trải qua trở nên nghiêm trọng hơn mức độ thực sự của nó.”

Một lần nữa, nếu hoàn cảnh hiện thời của chúng ta không khác biệt về bản chất, nhưng chỉ khác biệt về mức độ, so với những gì mà chúng ta gọi là “cuộc sống bình thường,” thì việc theo đuổi việc học thuật của chúng ta nên được coi như là có giá trị. Điều này thích hợp với các học sinh, sinh viên đang tham gia vào các diễn đàn trực tuyến cũng như các giáo viên đang học cách sử dụng công nghệ hội đàm qua truyền hình (video-conferencing technology).

Lewis kết luận với lời khuyên làm thế nào để một người có thể tiếp tục theo đuổi việc học tập bất chấp những khó khăn, thách đố:

“Kẻ thù đầu tiên chính là sự dao động – khuynh hướng luôn suy nghĩ và cảm nhận về [dịch bệnh] trong khi chúng ta đã định suy nghĩ về công việc của mình. Tấm khiên bảo vệ tốt nhất đó là việc nhận ra rằng [dịch bệnh] không thực sự nổi lên như một kẻ thù mới nhưng chỉ là một tác nhân làm mạnh lên một kẻ thù vốn đã có từ trước mà thôi. Công việc của chúng ta luôn có rất nhiều kẻ thù…Chỉ có những người khao khát tri thức đến độ họ tìm kiếm nó ngay cả trong những điều kiện không thuận lợi, đó mới là những người thành công. Điều kiện thuận lợi sẽ chẳng bao giờ đến. Tất nhiên, có những thời điểm mà áp lực của những dao động quá lớn đến độ chỉ có những ‘người siêu tự chủ’ mới có thể chống lại nó được. Họ bước vào cả [trận đại dịch] lẫn sự hoà bình. Chúng ta phải cố gắng bao nhiêu có thể.”

Lewis chỉ ra rằng học tập là có giá trị và giá trị ấy vẫn có một vị trí quan trọng trong các thời kỳ khủng hoảng. Hoàn cảnh hiện thời của chúng ta sẽ không cho phép chúng ta phớt lờ điều kiện nhân sinh, nhưng dù có thích nó hay không thì chúng ta cũng vẫn ở trong điều kiện ấy. Một cuộc khủng hoảng toàn cầu chỉ mở đường cho những thử thách mới, đặc biệt những gì mà Lewis gọi là “sự dao động” – đó là một cơn cám dỗ xúi giục chúng ta chỉ còn nghĩ về cơn khủng hoảng mà bỏ quên công việc của mình. Với một số người, cuộc khủng hoảng ấy trở nên trầm trọng hơn bởi cơn lốc tin tức và bởi Twitter, Facebook… Tất nhiên, chúng ta luôn có thể gặp phải những xao lãng trong chuyện học tập của mình, và việc nhận ra rằng sự xao lãng trong hoàn cảnh hiện thời chỉ là một kẻ thù cũ dưới một mặt nạ mới mà thôi, việc nhận ra chân tướng của vấn đề như vậy có thể giúp chúng ta vượt qua được nó.

Lewis khích lệ chúng ta hãy làm những gì mà chúng ta coi là có giá trị trong hoàn cảnh khủng hoảng hiện thời: đọc một tiểu thuyết thú vị, ôn thi, viết một bài nghiên cứu, cuối cùng là hoàn thành những điều ấy. Một đại dịch có thể gây ra nhiều thiệt hại nhưng đừng để nó cản trở việc học tập của bạn!

Văn Tài, S.J. (lược dịch)

SILENCE FILM


Có lẽ mục tiêu không thể thiếu để làm nên sự thành công của bất kì một bộ phim nào là cho người xem cảm được và hiểu được thông điệp mà nó muốn truyền tải, một ý nghĩa sâu xa hơn những gì đang diễn ra trong mỗi cảnh quay. Và “Silence” cũng không ngoại lệ.

Là bộ phim lịch sử năm 2016, được đạo diễn bởi Martin Scorsese - người đồng sáng tác kịch bản với Jay Cocks, “Silence” kể về linh mục Ferreira thuộc Dòng Tên ở Bồ Đào Nha đã chối đạo công khai và giúp chính quyền Nhật Bản bách hại các Kitô hữu. Để đối mặt với những trở ngại nghiêm trọng này, hai linh mục trẻ tuổi là Cha Rodrigues và Cha Garupe xin được đi tìm hiểu điều gì đã xảy ra với Ferreira và tiếp tục sứ mệnh rao giảng Tin Mừng của Chúa Kitô cho các Kitô hữu Nhật Bản bị bách hại. Qua “Silence”, người xem được hứa hẹn sẽ chạm tới một nhận thức mới hơn về Thiên Chúa, về Nhật Bản trong thế kỉ XVII nhiều hỗn độn dưới thế lực của các nhà cầm quyền; về sự kiên cường của các Kitô hữu; về tính cách nhân vật mang tên Kichijiro và cuộc đời của các linh mục Dòng Tên chối đạo trên chính mảnh đất mà họ đã can đảm đặt chân đến để gieo trồng đức tin.

Như lời tường thuật của Ferreira trong phim, Nhật Bản được biết đến không giống như cái tên người ta thường gọi “Đất nước mặt trời mọc”. Đúng hơn nó được nhìn nhận là xứ sở của đầm lầy, mây mù, tăm tối, chết chóc và những tiếng rên rỉ đến rợn mình. Khoảng những năm 1600, chính quyền Nhật thực thi chính sách “Tỏa Quốc”. Các thương gia, trừ người Hà Lan và người Trung Hoa, đều bị cấm tới đây, và người Hà Lan bị hạn chế, chỉ được phép đến một hòn đảo nhỏ ở cảng Nagasaki. Vì thế, không lạ gì khi hai linh mục truyền giáo Dòng Tên lại phải xuống tàu buôn của người Trung Hoa mới tới được Nhật Bản, mặc dù theo lịch sử Bồ Đào Nha lúc bấy giờ rất phát triển về giao thương. Song song với chính sách đó, Nhật Bản còn thực hiện các cuộc đàn áp, bách hại tàn bạo với tất cả những ai truyền bá và theo Kitô giáo. Sự phản đối của chính quyền Nhật với Kitô giáo nhắm vào những yếu tố chính trị phức tạp. Họ cho rằng sự có mặt của Ki-tô giáo có thể là chiêu bài cho các nước châu Âu tiếp cận, làm rối loạn Nhật Bản để dễ dàng xâm chiếm Nhật. Từ lúc đó, các hội truyền giáo Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trở thành mối đe dọa nguy hiểm cần phải tiêu diệt; tiếp đến là để ngăn chặn những cuộc nổi loạn của nông dân chống lại các nhà lãnh đạo. Sự phản ánh chân thực một chế độ xã hội rất khắc nghiệt thời bấy giờ được thể hiện khá rõ nét qua hình ảnh những người nông dân nghèo khổ đa phần là Kitô hữu, họ khát khao có được cuộc sống tự do về tinh thần, và muốn thoát khỏi gánh nặng của đói kém, nặng nhọc, sưu cao thuế nặng…Bởi đó, biện pháp được cho là tốt nhất giúp chính quyền Nhật đạt được trọn vẹn hai mục tiêu trên là “đổ máu chính các Kitô hữu Nhật”, dù họ khẳng định rằng “không muốn bách hại mọi người”; họ không có niềm vui thực sự khi tra tấn các Kitô hữu, và chỉ xem nó như là hình thức.

Các cuộc bách hại diễn ra ngày càng gay gắt, thì lòng kiên cường của các Kitô hữu Nhật Bản càng được biểu lộ. Trong trường hợp không có một nhà thờ chính thức, họ đã bổ nhiệm các trưởng lão để thực hiện vai trò và chức năng của các linh mục, đặc biệt là làm phép rửa tội cho trẻ em. Họ họp nhau cầu nguyện dưới các hầm kín và buộc phải giấu diếm tín ngưỡng bằng cách vẫn thực thi những lễ nghi của đạo Phật. Sự giấu diếm và trốn ẩn của các Kitô hữu Nhật không vì lo sợ cho tính mạng cá nhân, nhưng vì đức tin, vì sự sống còn của người khác nữa: Họ sẵn sàng hy sinh chịu chết để “Bảo vệ các linh mục” thoát khỏi sự kiểm soát, nghi ngờ của chính quyền và nếu “Không làm những gì họ muốn, có thể người trong làng sẽ gặp nguy hiểm”. Tuy nhiên, không phải tất cả các Kitô hữu Nhật đều có cùng suy nghĩ như vậy. Khi chứng kiến những gian khổ, cực hình mà người thân của họ phải chịu so với mối lợi tiền bạc, sự sống đặt ra trước mắt đã làm cho không ít Kitô hữu thất vọng, e ngại, xung đột, bán đứng người khác và bỏ đạo. Còn lại những ai không chịu bỏ đạo đều phải chết dưới những hình thức man rợ như nhau: Ngâm mình trong thủy triều; thiêu sống; dìm xuống nước; chặt đầu; hay treo ngược xuống và cắt tĩnh mạch cho máu rỉ từ từ…Vẫn có những tiếng khóc kèm theo sự sợ hãi, rên rỉ, nhưng họ không chửi rủa, không than trách, không hận thù; họ đã hát, đã xưng tội, đã cùng nhau cầu nguyện, và xin ơn đối mặt với cái chết để “Chứng minh sức mạnh đức tin của mình và sự hiện diện của Chúa bên trong”. Chính niềm tin kiên cường đó đã đem đến sức mạnh không chỉ cho họ, nhưng còn thắp lên hy vọng và niềm tin, thậm chí cho cả những người đã mang Chúa đến với họ.

Linh mục Rodrigues và các Kitô hữu Nhật Bản 

Đúng như Ferreica từng khẳng định: “Sự dũng cảm của họ đem đến cho linh mục chúng tôi sức mạnh để ở lại đây bí mật”, một linh mục đã từng gieo trồng đức tin cho người Nhật, nhưng chính lúc này đây ông lại cần đức tin hơn bao giờ hết. Cần đức tin của những con người can đảm đối mặt và đã chiến thắng cái chết vì Đức Kitô; cần đức tin của chính mình dành cho Thiên Chúa trước những kết quả không như mong đợi của công cuộc truyền giáo.

Linh mục Ferreica trong một cảnh quay 
Nhân vật Ferreira xuất hiện không nhiều trong các cảnh quay của phim, và dường như rất mờ nhạt. Trong mắt người Nhật, Ferreica là kẻ đáng bị báng bổ vì đã chối đạo, lấy vợ và trở thành Phật tử. Nhưng nét gợn buồn lộ cả những ưu tư, khắc khoải một điều gì đó trên khuôn mặt linh mục lại khiến người xem phải lắng đọng nghĩ suy. Nói tới điều này, thiết nghĩ người có thể hiểu Ferreira nhiều hơn ai hết chính là Rodrigues - một linh mục ban đầu mạnh mẽ và kỷ luật hơn so với thầy mình là Ferreira và người bạn Garupe. Lòng sốt sắng và đức tin của anh đáng ngưỡng mộ, nhưng tầm nhìn của anh bị che khuất bởi sự ích kỷ và kiêu ngạo khi nói thầy mình là “Sự sỉ nhục” đối với Giáo Hội; chê bạn mình là “Linh mục tồi”. Rodrigues tin rằng tử đạo là vinh dự cao nhất mà một người theo đạo Thiên Chúa có đức tin có thể làm được, anh ta có thể sẵn sàng chịu bất kỳ sự tra tấn nào đối với đức tin của mình. Giống như Phê-rô, anh đã từng xác tín rằng “Con sẽ không bỏ Ngài”, nhưng điều gì sẽ xảy ra khi sự trung thành của anh ta đối với Thiên Chúa lại được trả giá bằng cách gây đau khổ cho người khác? Cả Ferreira và Rodrigues bị buộc phải lựa chọn hoặc giẫm lên hình ảnh của Chúa Kitô để biểu thị sự bội đạo hoặc xem các Kitô hữu Nhật Bản lần lượt chết một cách chậm chạp, ghê gớm vì chờ trông sự thay đổi của mình. Cả hai đều quyết định “giẫm lên Chúa” bằng chân của mình để cứu những Kitô hữu vô tội; hành động ấy gánh hết trách nhiệm vì “điều” họ đã mang đến. Hành động trong niềm tin vào lòng thương xót Chúa và rằng có những điều còn quan trọng hơn sự phán xét của Giáo Hội.

Mặc dù cả hai đều rơi vào lịch sử như những linh mục sa ngã dưới bàn tay của các nhà cầm quyền Nhật Bản, nhưng đối với những Kitô hữu Nhật, đó lại là sự hy sinh âm thầm mà vô cùng lớn: Từ bỏ đức tin của mình, làm cho chính mình mất đi phẩm giá, tạo sự thất vọng trong mắt Giáo Hội và dùng trí thức phục vụ quyền lợi của chính quyền Nhật để ngăn chặn các đối tượng Kitô giáo bất hợp pháp xâm nhập vào Nhật Bản, để cuộc bách hại không còn xảy ra đối với những người Kitô hữu Nhật Bản còn lại nữa. Cách riêng với bản thân họ, bí mật ấy vẫn được giữ kín cho đến chết. Bí mật về một đức tin được ghi dấu bởi sự đau khổ và lòng thương xót thiêng liêng giữa Thiên Chúa và con người.
Dẫu biết rằng Rodrigues đã chối đạo, bản thân Kichijiro - một người Nhật khốn khổ bất hạnh mà Rodrigues tìm thấy ở Trung Hoa và thuê làm hướng dẫn viên, vẫn coi Rodrigues là một linh mục và là người có thể tha tội cho mình. Anh ta là một biểu tượng cho sự yếu đuối và phản bội. Kichijiro liên tục từ bỏ đức tin của mình để cứu chính mình và phản bội Rodrigues vì ​​tiền, nhưng luôn chạy theo Rodrigues cầu xin sự tha thứ. Đúng hơn, anh ta muốn là một Kitô hữu, nhưng trong thời kỳ đó Kitô giáo là một đạo bất hợp pháp, anh ta thường xuyên bị tra vấn và khinh thường đức tin của mình, anh buộc phải đối mặt với việc mình là một kẻ hèn nhát bẩn thỉu; anh tự hỏi tại sao Thiên Chúa khiến anh yếu đuối hơn mạnh mẽ. Một Kichijiro liên tục “giẫm lên Thiên Chúa” nhưng vẫn tin, mãi mãi khao khát được tha thứ và vẫn tìm kiếm sự cứu rỗi, cuối cùng cũng chiến thắng bản thân trong cả tư tưởng và hành động khi dám chịu trách nhiệm về “một biểu tượng” Kitô hữu mà anh luôn mang theo bên mình. Điều này chứng tỏ anh đã được biến đổi hoàn toàn, anh không còn sợ hãi nghĩ đến mình khi phải đối mặt với thách thức của nhà cầm quyền, anh đã chết như một vị tử đạo - điều mà trước kia anh không đủ sức mạnh để làm.

“Silence” kết thúc làm cho người xem có vẻ hụt hẫng khi nhìn vấn đề hoàn toàn là một thất bại và những nghi vấn: Thất bại cho Giáo hội, thất bại bởi các nhà truyền giáo, thất bại trong đất nước Nhật Bản... Nếu con người dành sự cảm thông cho thất bại này, liệu họ có đang lạm dụng lòng thương xót của Thiên Chúa mà biện hộ cho sự yếu đuối của mình hay không? Đức tin Kitô giáo còn giữ được tinh tuyền hay sớm bị biến chất bởi một Kitô giáo hình thức? “Silence” cũng tạo ra một cuộc tranh luận gay gắt giữa niềm tin Kitô giáo và Phật giáo, quan điểm của châu Âu với châu Á, và về thuyết tương đối của đức tin. Nếu Kitô giáo đã thay đổi ở Nhật Bản, liệu nó còn là đức tin giống như những nhà truyền giáo đã tuyên xưng?

Vì thế, khi đứng trước những vấn nạn về đức tin, chủ đề một Thiên Chúa luôn “Thinh lặng” vừa là câu hỏi, vừa là câu trả lời cho thắc mắc muôn thưở của con người: Có Thiên Chúa hay không; nếu có tại sao Thiên Chúa lại im lặng để cho sự dữ xảy ra, và đâu là ý nghĩa của sự đau khổ mà con người phải chịu...Dĩ nhiên, Thiên Chúa sẽ không trả lời cho con người biết nguồn gốc của sự đau khổ, Ngài chỉ cho con người biết cách xử sự và đón nhận nó như thế nào, vì chính trong đau khổ và sự dữ, đức tin của con người mới được củng cố và trưởng thành hơn. Sự thinh lặng của Thiên Chúa cho ta ý thức khiêm tốn khi đứng trước các điều bí ẩn của sự sống: Có những điều vượt quá khả năng nhận thức của con người, và điều ta có thể làm là cúi đầu trước mầu nhiệm của Thiên Chúa.

“Thinh lặng” không phải là nhắm mắt làm ngơ, mà đó là sự thấu hiểu tới tận cùng “Ta được sinh ra ở đây để chia sẻ nỗi đau của con người, ta mang thánh giá đau khổ cho con”, Thiên Chúa đã không chết vì điều tốt đẹp, nhưng Ngài chết vì sự dữ và rút từ những hành động của sự dữ mà cứu con người. Thiên Chúa nhìn thấy tất cả, lắng nghe tất cả, thấu hiểu tất cả những gì xảy ra trong cuộc sống của họ. Ngài không cấm, không trách, không ghét khi con người dùng lý trí của mình để chất vấn Ngài: Cứ than thở, cứ rên la, cứ van xin, cứ giãi bày…Đó chính là niềm tin Thiên Chúa muốn con người đặt vào bí ẩn của sự dữ; đó là cơ hội để cho Thiên Chúa hiểu con người và con người thể hiện lòng tin nơi Thiên Chúa.

Thiên Chúa thinh lặng đồng hành với con người trong nhiều cách thức khác nhau. Ngài vẫn đang điều hành, chăm sóc và yêu thương con người qua tất cả tạo thành, và luôn mời gọi con người lên đường tìm kiếm Ngài qua mọi biến cố của cuộc sống, đặc biệt trong đau khổ. “Thinh lặng” nói lên một tình yêu hy sinh. Tình yêu hy sinh luôn nảy nở hoa trái cho dù con người có thấy điều đó hay không.
Dương Cầm



Thứ Năm, 21 tháng 11, 2019

LƯƠNG TÂM

Ngày nay, đang khi có rất nhiều cuốn sách hướng dẫn các phương thế giúp con người đạt đến sự thành công thuộc mọi lãnh vực khác nhau của cuộc sống lần lượt được ra đời, thì những tác phẩm bàn về “lương tâm”_ Một chuẩn mực luân lý cao đẹp nhất, tất yếu nhất làm nên giá trị thành công bên trong của con người lại chiếm tỉ lệ hết sức khiêm tốn và dường như không ai để ý. Đây là dấu hiệu cho thấy “lương tâm” dần trở thành vấn đề khá nhạy cảm nơi con người và xã hội. Dẫu vậy, luân lý Ki-tô giáo vẫn hằng nhắc nhở và giải thích cho con cái mình với quan điểm tôn trọng rõ ràng về hai tiếng “lương tâm”. Nhưng, tại sao luôn có sự căng thẳng giữa lương tâm (luật bên trong) và lề luật (luật bên ngoài)? Tại sao con người luôn phải hành động theo lương tâm chắc chắn, ngay cả khi nó sai lầm (bất khả thắng)? Để có được một lương tâm đúng đắn, trưởng thành, con người cần phải làm thế nào?
Công đồng Vatican II cho rằng: “Con người khám phá ra tận đáy lương tâm một lề luật mà chính con người không đặt ra cho mình, nhưng vẫn phải tuân theo, và tiếng nói của lương tâm luôn luôn kêu gọi con người phải yêu mến và thi hành điều thiện cũng như tránh điều ác. Tiếng nói ấy âm vang đúng lúc trong tâm hồn của chính con người: Hãy làm điều này, hãy tránh điều kia. Quả thật con người có lề luật được Chúa khắc ghi trong tâm hồn. Tuân theo lề luật ấy chính là phẩm giá của con người và chính con người cũng sẽ bị xét xử theo lề luật ấy nữa. Lương tâm là tâm điểm sâu kín nhất và là cung thánh của con người, nơi đây con người chỉ hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Ngài vang dội trong thâm tâm họ. Nhờ lương tâm, lề luật được thực hiện trong sự yêu mến Thiên Chúa và anh em, và được biểu lộ cách kỳ diệu” 
Như vậy, có thể nói lương tâm là nơi sâu thẳm nhất của con người, tiếng nói của lương tâm là một phán quyết luân lý về các hành vi của con người có phù hợp hay không với Luật Chúa. Nhờ đó, con người nhận biết điều tốt, xấu của một hành động cụ thể phải thi hành ngay lúc này hay đã thực hiện trong quá khứ. Mỗi người đều phải tuân theo chỉ thị của lương tâm vì đó là tiếng nói cuối cùng mà con người có thể nghe được Lời của Thiên Chúa. Bởi thế, con người có quyền lợi và nghĩa vụ tuân theo tiếng nói của lương tâm
Lương tâm bắt nguồn từ tự do nội tại của mỗi người nên họ có quyền lựa chọn làm và sống với những điều bản thân cho là thiện, đúng, thật. Trong mối quan hệ với lề luật thì lương tâm là cơ sở của lề luật. Tuy nhiên, giữa lương tâm và lề luật luôn có sự căng thẳng với nhau vì lề luật mang tính phổ quát và những nguyên tắc khách quan của luân lý, nó quyết định một cách chung điều tốt phải làm và điều xấu phải tránh (vd: Đã uống rượu thì không lái xe); trong khi lương tâm quyết định cách riêng cho từng trường hợp cụ thể, vốn phức tạp tùy theo tình huống, lương tâm dựa trên những nguyên tắc khách quan để quyết định xem một việc nên làm hay nên tránh (vd: Mồng 1 tết, A gặp người bị tai nạn giữa đường mà không ai giúp. A biết mình vừa uống rượu, nhưng đủ tỉnh táo để lái xe, nên lấy xe chở người đó tới bệnh viện.)
Người ta sẽ tự hỏi, nếu con người luôn hành động tự do theo lương tâm mình thì liệu lương tâm của con người có hoàn toàn đúng để hướng dẫn mọi hành động hay không? Câu trả lời sẽ là: Không phải lúc nào phán đoán của lương tâm cũng đúng và đáng tin cậy. Có nhiều trường hợp lương tâm trở nên chai lì và lệch lạc do chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố thể lý, tâm lý, môi trường xã hội, văn hóa, và thiếu hiểu biết trong tôn giáo (về Ðức Ki-tô và Tin Mừng; gương xấu của người khác; nô lệ các đam mê; nghĩ sai lạc về tự do lương tâm; khước từ quyền bính và giáo huấn của Hội Thánh; thiếu hoán cải và bác ái) khiến con người có thể mắc sai lầm trong phán đoán một cách dễ dàng. Nhưng điều quan trọng nằm ở chỗ sai lầm ấy khả thắng hay bất khả thắng. Trong trường hợp lương tâm sai lầm bất khả thắng, con người không vì đó mà mất đi phẩm giá và lương tâm hết giá trị. Nó vẫn là tiêu chuẩn gần cho hành động luân lý, bởi vì trong thực tế, lương tâm đang uốn chủ thể hành vi theo một chiều hướng lệch ra ngoài trật tự luân lý khách quan, thì lương tâm vẫn không ngừng lên tiếng nhân danh chân lý về điều thiện mà chủ thể được mời gọi tìm kiếm cách chân thành (vd: Một người nghĩ rằng hôm nay là ngày lễ trọng buộc, mặc dù sự thật không phải là ngày lễ trọng buộc, nếu người đó không đi lễ thì vẫn mắc tội). Theo lẽ đó, họ luôn phải hành động theo lương tâm chắc chắn, ngay cả khi nó sai lầm. Tuy nhiên, không thể nói như vậy khi con người ít lo lắng tìm kiếm điều chân và điều thiện, hoặc vì thói quen phạm tội mà lương tâm dần dần trở nên mù quáng.
Luôn phải đối diện với nhiều nguy cơ biến dạng, đảo chiều, cho nên sự trưởng thành của lương tâm không có điểm dừng. Nó trải dài suốt cuộc đời con người. Ý thức về khả năng sai lầm của lương tâm, đòi hỏi mỗi người cần được giáo dục và học hỏi thêm qua các phương thế tự nhiên và siêu nhiên.
Trước hết, phương thế tự nhiên gắn liền với thời gian đào tạo, nuôi dưỡng và làm tăng trưởng lương tâm cho con người ngay từ nhỏ, nhưng sẽ chưa đủ nếu chỉ dừng lại trong giai đoạn ấu thơ và thiếu niên. Bởi vì trong giai đoạn tuổi trẻ, trung niên, lão thành, những vấn đề mới luôn được đặt ra trên nhiều phương diện, nhiều khía cạnh. Con người phải được hiểu biết nhiều hơn về những giá trị của sự sống, tình yêu, hôn nhân, gia đình, xã hội cách thường xuyên và thích nghi. Môi trường sống như gia đình, học đường, xã hội cũng có tác động không nhỏ làm cho con người trưởng thành trong việc nhận thức luân lý và rèn luyện lương tâm. Sống trong môi trường tốt, con người sẽ trở nên tốt, nhưng ở nơi lương tâm không được chú ý, tôn trọng và đề cao (yêu mến và thực hành điều thiện) thì hẳn nhiên, nó sẽ không bao giờ phát triển.
Thứ đến, phương thế siêu nhiên mời gọi con người lắng đọng tâm hồn giữa những xáo động, ồn ào và thay đổi của thế giới thực dụng để cầu nguyện, hồi tâm, xét mình. Đây là giờ phút linh thiêng cho cá nhân đi vào cuộc gặp gỡ thâm sâu với Đức Kitô (nhờ ơn Chúa Thánh Thần tác động), họ sẽ nhìn thấy mình cách chân thực nhất, có được sự biện phân đúng đắn trong lương tâm về những điều tốt, điều xấu mình đã làm, đang làm và sẽ làm. Bên cạnh đó, để lương tâm con người được trong sáng, không bất chính, không sai lầm, không phóng túng, không chật hẹp và giả hình, con người hãy học cách lắng nghe Lời Chúa trong Thánh Kinh cũng như qua các hướng dẫn của Hội Thánh. Chính Lời Chúa sẽ đào luyện lương tâm con người và sự trung thành chiến đấu của con người với các đam mê, trào lưu tục hoá và khuynh hướng hưởng thụ…tất cả những gì làm cho họ dần mất đi cảm thức về tội là điều không thể thiếu. Hơn nữa, khi con người năng đến với các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Sám hối, thì những thiếu sót, lỡ lầm trong lương tâm con người sẽ dần được sửa đổi. Đến với Bí tích Sám hối khi mắc tội trọng, kể cả những lúc chỉ mắc tội nhẹ, luôn giúp cho việc xét đoán của lương tâm được bén nhạy, chống lại những xu hướng thấp kém xấu xa, và tiến bộ trong đời sống tinh thần. 
Xét cho cùng, Giáo hội luôn tôn trọng sự tự do của lương tâm con người như cách Thiên Chúa đang tôn trọng phẩm giá mỗi người do chính Ngài tạo nên. Vì vậy con người có quyền tự do để hành động theo lương tâm của mình. Không ai có quyền ngăn cản, gượng ép một người đi ngược với xác tín của họ. Cũng thế, phán quyết của một lương tâm tự do thì luôn tiềm ẩn nguy cơ sai lầm và có sự căng thẳng với lề luật. Nhưng điều quan trọng hơn hết vẫn là lời mời gọi con người hãy đào luyện lương tâm trong suốt đời sống của mình, để cho lương tâm ấy không phải là thụ động làm theo luật pháp và phong tục một cách máy móc, mà là một lương tâm được cá vị hóa (được biến đổi từ cái bên ngoài thành cái bên trong, khởi đi từ lương tâm độc đoán tới một lương tâm trưởng thành), một lương tâm không chỉ biết “phải làm gì, cần làm gì”, nhưng còn là biết “nên làm gì”. Qua đó, con người thực sự phát huy được cách tốt nhất những giá trị sống vì, sống với mọi người xung quanh.





Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2019

ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG

Ngày nay, xã hội càng văn minh, càng dồi dào vật chất, càng ê hề hưởng thụ, thì dường như nhu cầu tâm linh của con người ngày càng mãnh liệt hơn. Nhiều giáo phái ra đời, nhiều người tìm về những gì là tín ngưỡng, là tâm linh, là tôn giáo; đặc biệt, người ta khát khao những giá trị như là cầu nguyện, tĩnh lặng, thiền định… Đó là những dấu chỉ khao khát hạnh phúc, khao khát sự trường tồn, bất tử, nhưng không phải ai cũng đạt được. Theo đó, những cuộc đồng hành thiêng liêng đóng vai trò rất quan trọng trong việc nối lại những mảnh vụn giữa đời sống vật chất với đời sống tâm linh của con người. Đây cũng là một thách đố lớn đối với những người thi hành sứ mạng này: Làm sao giúp cho người thụ hướng có được sự gặp gỡ đích thực với chính Thiên Chúa, chứ không chỉ dừng lại ở những tình cảm hời hợt chóng qua, hay một mớ lý thuyết cao siêu huyền bí? Có thể nói, công việc đồng hành thiêng liêng vừa khơi mở, vừa kiện toàn đời sống tâm linh không chỉ cho người thụ hướng, nhưng còn cho chính bản thân người làm công tác hướng dẫn, đồng hành. Vì vậy, để thi hành sứ vụ cách tốt nhất thì những tiêu chuẩn mà một người đồng hành cần có chính là kiến thức, sự khôn ngoan và kinh nghiệm.
 Trước tiên, không ai đòi hỏi vị đồng hành phải là học giả uyên thâm, hay phải là nhà thần học; nhưng nếu những vị đồng hành không có nền tảng vững chắc về thần học, Thánh kinh, hay những kiến thức liên quan khác, khiến họ không thể nhận thức được sai lầm trong đời sống đức tin, luân lý, cách thực hành nhân đức của người thụ hướng, sẽ dẫn đến những tình trạng nghiêm trọng hơn. Do vậy, vị đồng hành phải được trang bị kiến thức căn bản về thần học tín lý, luân lý, tâm linh và cả tâm lý qua việc hiểu biết ít là những nét sơ quát về về tính khí, khuyết điểm, sở thích, khả năng và nghị lực; đặc biệt là quá khứ, môi trường sống, môi trường giáo dục của người mình đang đồng hành.
Thứ hai, nhờ khôn ngoan, vị đồng hành có thể đưa ra những hướng dẫn rõ ràng minh bạch, không mâu thuẫn, không xác tín một đàng khuyên lơn một ngả, không thiên vị, không nhu nhược; biết lúc nào cần nâng đỡ, cảm thông an ủi; lúc nào cần phải nghiêm khắc, cứng rắn. Những hướng dẫn trên không lấn át quyền tự do của người thụ hướng, mà chỉ là những soi sáng cần thiết giúp người thụ hướng khám phá ra nẻo đường tự do trong tương quan đích thực với Thiên Chúa.
 Sự khôn ngoan của người đồng hành không dừng lại ở đó, nhưng khôn ngoan còn là theo dõi, giám sát tiến trình tâm linh của người thụ hướng. Vì, chưa hẳn mọi điều người thụ hướng nói đều là sự thật; có thể họ bị trật đường buông xuôi khi sao lãng với các bổn phận thiêng liêng; xen vào cuộc đồng hành những vấn đề của trần thế hay người khác; hoặc cũng có thể vì quá nhiệt tình mà ăn chay, cầu nguyện, hãm mình đến độ kiệt sức. Tuy nhiên, để kéo họ trở về với mục đích thiêng liêng vị đồng hành vừa phải thể hiện tính nghiêm túc, cứng rắn, vừa phải bày tỏ lòng bao dung độ lượng, để làm sao người được sửa lỗi không thấy mình bị tổn thương mà vẫn cảm nhận được sự cảm thông, yêu mến; vượt qua được những giới hạn của mình mà không bị dồn nén, ép buộc. Ngay trong tiến trình giám sát, việc giữ bí mật cho người thụ hướng cũng là bổn phận người đồng hành phải nghiêm túc chu toàn: không chỉ vì những điều thuộc toà trong, nhưng còn phải giữ với bất cứ lý do gì, kể cả khi người thụ hướng cho phép, vị đồng hành cũng không được tiết lộ những gì mình biết được về họ qua cuộc gặp gỡ thiêng liêng.
Để có thể nhận ra đâu là thần khí Thiên Chúa, đâu là thần khí ma quỷ, và đâu là thần khí con người, người đồng hành cũng cần phải khôn ngoan khi phân tích những biểu hiện và tình trạng nội tâm của người thụ hướng. Hơn nữa, họ không bao giờ cho phép lấy mình làm tiêu chuẩn để hướng dẫn người khác. Họ chỉ làm theo thánh ý Thiên Chúa, sẵn sàng để Người dạy dỗ và hướng dẫn mà không nôn nóng đốt cháy giai đoạn; không dễ dàng cho người khác lời khuyên hoặc chỉ đưa ra lời khuyên khi nắm hiểu hoàn toàn vấn đề của đương sự và biết chắc người kia không thể tự mình quyết định. Tuỳ hoàn cảnh, điều kiện, tuổi tác, phái tính, bậc sống, mức độ tăng trưởng tâm linh của mỗi người mà có thể cho người thụ hướng những chỉ dẫn phù hợp. Những lời khuyên tập trung vào đời sống tâm linh, đời sống Kitô giáo, đời sống đức tin qua vai trò soi sáng, gợi mở và không quyết định thay cho người thụ hướng.
Một số gợi ý trên đây chưa làm nên sự phân định trọn vẹn. Vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ cho Thánh Thần hoạt động và cho khát vọng tìm kiếm của con người. Nghĩa là người đồng hành phải nhận ra và giúp cho người thụ hướng nhận ra Thánh Thần đang hoạt động trong họ, để họ ngoan ngoãn bước theo đường lối Thánh Thần hướng dẫn, và can đảm thực thi thánh ý Thiên Chúa. Người đồng hành phải xác tín rằng mình chỉ là khí cụ trong tay Thiên Chúa, chính Người mới là vị đồng hành đích thực. Nhờ việc vượt qua được những tham vọng muốn cung cấp cho người thụ hướng của mình những chỉ dẫn cặn kẽ, những giải pháp cụ thể và hữu hiệu tức thời trước những khó khăn hay là cung cấp những kỹ thuật để người thụ hướng nên thánh cấp tốc, người đồng hành tìm cách lắng nghe tiếng Chúa, nhận ra sự hiện diện và hướng dẫn từng con cái của Người.
Kinh nghiệm là tiêu chuẩn cuối cùng và cũng là một trong những phẩm tính quý giá nhất của vị đồng hành. Ngay cả khi vị đồng hành kém hoàn chỉnh về kiến thức, thậm chí chưa khôn ngoan đủ, thì kinh nghiệm có thể bù đắp cho những thiếu sót này. Kinh nghiệm của vị đồng hành có thể bắt nguồn từ chính đời sống tâm linh của bản thân, cũng có thể do quan sát và sự chỉ dẫn của người khác. Một khi vị đồng hành có kinh nghiệm về cầu nguyện, chiêm niệm, về việc lắng nghe và gặp gỡ Chúa, về những khoảnh khắc dường như Chúa vắng mặt, những khao khát và chán nản, thành công và thất bại, ân sủng và tội luỵ… thì điều họ chia sẻ cho người thụ hướng không phải là viển vông, lý thuyết, nhưng là những cảm nhận sống động. Và nhờ kinh nghiệm về chính mình vị đồng hành trở nên bao dung với những yếu đuối, sai phạm, hoặc những kinh nghiệm không hay của người khác.
Dĩ nhiên, không phải vị đồng hành nào cũng có được kinh nghiệm sống động như thế, và không nhất thiết ai cũng phải trải qua kinh nghiệm của chính bản thân mình; hơn nữa, nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm của bản thân, thì việc hướng dẫn đôi lúc sẽ trở nên chủ quan, phiến diện. Do đó, vị đồng hành cần phải thu tích kinh nghiệm nhờ tiếp xúc với hoàn cảnh sống cụ thể của họ bằng lòng nhiệt thành vô vị lợi, giúp người thụ hướng thiết lập mối tương giao. Đặc biệt, để họ có thể tin tưởng bộc lộ tâm hồn mình, việc lắng nghe đương sự không chỉ bằng đôi tai, nhưng bằng cả trái tim là điều quan trọng. Vị đồng hành cũng có nhiệm vụ phải gieo vào lòng người thụ hướng thái độ tích cực: Không phải là hối hận, đau khổ, tự ty mặc cảm, buông xuôi thất vọng; nhưng là tin tưởng, bằng an, cảm nhận được tình thương, sự tha thứ, và dám coi những đổ vỡ đó như cơ hội để khám phá ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời mình, ngay trong những điều tệ hại nhất của mình, nhận ra kế hoạch của lòng thương xót, và để cho lòng thương xót chữa lành.
Tóm lại, xét về bản chất, đồng hành thiêng liêng là một nghệ thuật, người ta có thể thủ đắc nhờ việc học hỏi, rút tỉa kinh nghiệm; tuy nhiên, đây không chỉ thuần tuý là sự cố gắng hay tài khéo của con người, nhưng còn là một đặc sủng, một ân ban đến từ Thiên Chúa. Một khi ý thức mình chỉ là dụng cụ của Thiên Chúa, vị đồng hành không nên tham vọng có thể giải quyết được mọi vấn đề của kiếp nhân sinh; và như vậy không được để người thụ hướng chỉ dừng lại nơi mình, nhưng nhờ tri thức, sự khôn ngoan phân định và kinh nghiệm, phải giúp họ gặp gỡ chính Thiên Chúa_ Người chính là lý tưởng, là cùng đích để mọi người vươn tới, với xác tín rằng Người luôn đồng hành, dẫn đưa chúng ta về với Thiên Chúa Cha. Chỉ trong Người tâm hồn chúng ta mới hết khắc khoải, mới được nghỉ an; và lúc bấy giờ trong ánh sáng và sự thinh lặng đầy tràn, cuộc đồng hành thiêng liêng hoàn toàn hiển lộ.

Thứ Tư, 25 tháng 9, 2019

LỚP HỌC TRUYỀN THÔNG



TRUNG TÂM MỤC VỤ SÀI GÒN KHAI GIẢNG 

KHÓA MỤC VỤ TRUYỀN THÔNG 2019


“…ước mong mỗi Kitô hữu có thể sử dụng phương tiện truyền thông như một cách thế hữu hiệu để truyền tải sứ điệp Tin Mừng cho thời đại.” là lời của linh mục Vũ Hữu Hiền khi nói về khóa Mục vụ Truyền thông tại Giáo phận trong năm nay. 

Khóa Mục vụ Truyền thông tổng quan 2019 đã chính thức bước vào tiết học đầu tiên lúc 18g30, tức thứ 4 ngày 4 tháng 9 năm 2019, tại phòng học truyền thông Trung tâm Mục vụ Giáo phận Sài Gòn.
Khóa học có sự tham gia của 43 học viên đến từ các dòng tu và giáo xứ; ban giảng huấn: Linh mục Giuse Vũ Hữu Hiền, nữ tu Têrêsa Võ Trần Sơn Nữ Duyên Sa cùng Ban Tổ chức Mục vụ Truyền thông Giáo phận.

Hình minh họa
Trong bài giới thiệu, linh mục trưởng ban có đề cập tới chương trình của khóa qua 5 phần chính: Mục vụ truyền thông; mục vụ PR; mục vụ đưa tin; mục vụ mạng xã hội; mục vụ hội nhập. Bên cạnh đó, linh mục cũng nhấn mạnh việc các Kitô hữu có thể sử dụng những phương tiện truyền thông của thời đại như một phương thế hữu hiệu để truyền tải sứ điệp Tin Mừng.

Buổi học kết thúc vào lúc 20g30, trong niềm vui và khơi dậy tinh thần truyền thông nơi mỗi người. Được biết, khóa Mục vụ Truyền thông sẽ kéo dài từ tháng 9 năm 2019 đến hết tháng 5 năm 2020, hứa hẹn nhiều thành quả tốt đẹp nhằm đáp ứng cho nhu cầu mục vụ tại các giáo xứ trong tương lai.

MỤC VỤ TRUYỀN THÔNG SÀI GÒN