Ngày nay, xã hội càng văn
minh, càng dồi dào vật chất, càng ê hề hưởng thụ, thì dường như nhu cầu tâm
linh của con người ngày càng mãnh liệt hơn. Nhiều giáo phái ra đời, nhiều người
tìm về những gì là tín ngưỡng, là tâm linh, là tôn giáo; đặc biệt, người ta
khát khao những giá trị như là cầu nguyện, tĩnh lặng, thiền định… Đó là những
dấu chỉ khao khát hạnh phúc, khao khát sự trường tồn, bất tử, nhưng không phải
ai cũng đạt được. Theo đó, những cuộc đồng hành thiêng liêng đóng vai trò rất
quan trọng trong việc nối lại những mảnh vụn giữa đời sống vật chất với đời
sống tâm linh của con người. Đây cũng là một thách đố lớn đối với những người
thi hành sứ mạng này: Làm sao giúp cho người thụ hướng có được sự gặp gỡ đích
thực với chính Thiên Chúa, chứ không chỉ dừng lại ở những tình cảm hời hợt
chóng qua, hay một mớ lý thuyết cao siêu huyền bí? Có thể nói, công việc đồng
hành thiêng liêng vừa khơi mở, vừa kiện toàn đời sống tâm linh không chỉ cho
người thụ hướng, nhưng còn cho chính bản thân người làm công tác hướng dẫn,
đồng hành. Vì vậy, để thi hành sứ vụ cách tốt nhất thì những tiêu chuẩn mà một
người đồng hành cần có chính là kiến thức, sự khôn ngoan và kinh nghiệm.
Trước tiên, không ai đòi hỏi vị đồng hành phải
là học giả uyên thâm, hay phải là nhà thần học; nhưng nếu những vị đồng hành
không có nền tảng vững chắc về thần học, Thánh kinh, hay những kiến thức liên
quan khác, khiến họ không thể nhận thức được sai lầm trong đời sống đức tin,
luân lý, cách thực hành nhân đức của người thụ hướng, sẽ dẫn đến những tình
trạng nghiêm trọng hơn. Do vậy, vị đồng hành phải được trang bị kiến thức căn
bản về thần học tín lý, luân lý, tâm linh và cả tâm lý qua việc hiểu biết ít là
những nét sơ quát về về tính khí, khuyết điểm, sở thích, khả năng và nghị lực;
đặc biệt là quá khứ, môi trường sống, môi trường giáo dục của người mình đang
đồng hành.
Thứ hai, nhờ khôn ngoan,
vị đồng hành có thể đưa ra những hướng dẫn rõ ràng minh bạch, không mâu thuẫn,
không xác tín một đàng khuyên lơn một ngả, không thiên vị, không nhu nhược; biết
lúc nào cần nâng đỡ, cảm thông an ủi; lúc nào cần phải nghiêm khắc, cứng rắn.
Những hướng dẫn trên không lấn át quyền tự do của người thụ hướng, mà chỉ là
những soi sáng cần thiết giúp người thụ hướng khám phá ra nẻo đường tự do trong
tương quan đích thực với Thiên Chúa.
Sự khôn ngoan của người đồng hành không dừng
lại ở đó, nhưng khôn ngoan còn là theo dõi, giám sát tiến trình tâm linh của
người thụ hướng. Vì, chưa hẳn mọi điều người thụ hướng nói đều là sự thật; có
thể họ bị trật đường buông xuôi khi sao lãng với các bổn phận thiêng liêng; xen
vào cuộc đồng hành những vấn đề của trần thế hay người khác; hoặc cũng có thể
vì quá nhiệt tình mà ăn chay, cầu nguyện, hãm mình đến độ kiệt sức. Tuy nhiên, để
kéo họ trở về với mục đích thiêng liêng vị đồng hành vừa phải thể hiện tính
nghiêm túc, cứng rắn, vừa phải bày tỏ lòng bao dung độ lượng, để làm sao người
được sửa lỗi không thấy mình bị tổn thương mà vẫn cảm nhận được sự cảm thông,
yêu mến; vượt qua được những giới hạn của mình mà không bị dồn nén, ép buộc.
Ngay trong tiến trình giám sát, việc giữ bí mật cho người thụ hướng cũng là bổn
phận người đồng hành phải nghiêm túc chu toàn: không chỉ vì những điều thuộc
toà trong, nhưng còn phải giữ với bất cứ lý do gì, kể cả khi người thụ hướng
cho phép, vị đồng hành cũng không được tiết lộ những gì mình biết được về họ qua
cuộc gặp gỡ thiêng liêng.
Để có thể nhận ra đâu là
thần khí Thiên Chúa, đâu là thần khí ma quỷ, và đâu là thần khí con người, người
đồng hành cũng cần phải khôn ngoan khi phân tích những biểu hiện và tình trạng
nội tâm của người thụ hướng. Hơn nữa, họ không bao giờ cho phép lấy mình làm
tiêu chuẩn để hướng dẫn người khác. Họ chỉ làm theo thánh ý Thiên Chúa, sẵn
sàng để Người dạy dỗ và hướng dẫn mà không nôn nóng đốt cháy giai đoạn; không
dễ dàng cho người khác lời khuyên hoặc chỉ đưa ra lời khuyên khi nắm hiểu hoàn
toàn vấn đề của đương sự và biết chắc người kia không thể tự mình quyết định. Tuỳ
hoàn cảnh, điều kiện, tuổi tác, phái tính, bậc sống, mức độ tăng trưởng tâm
linh của mỗi người mà có thể cho người thụ hướng những chỉ dẫn phù hợp. Những lời
khuyên tập trung vào đời sống tâm linh, đời sống Kitô giáo, đời sống đức tin qua
vai trò soi sáng, gợi mở và không quyết định thay cho người thụ hướng.
Một số gợi ý trên đây
chưa làm nên sự phân định trọn vẹn. Vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ cho Thánh Thần hoạt
động và cho khát vọng tìm kiếm của con người. Nghĩa là người đồng hành phải
nhận ra và giúp cho người thụ hướng nhận ra Thánh Thần đang hoạt động trong họ,
để họ ngoan ngoãn bước theo đường lối Thánh Thần hướng dẫn, và can đảm thực thi
thánh ý Thiên Chúa. Người đồng hành phải xác tín rằng mình chỉ là khí cụ trong
tay Thiên Chúa, chính Người mới là vị đồng hành đích thực. Nhờ việc vượt qua
được những tham vọng muốn cung cấp cho người thụ hướng của mình những chỉ dẫn
cặn kẽ, những giải pháp cụ thể và hữu hiệu tức thời trước những khó khăn hay là
cung cấp những kỹ thuật để người thụ hướng nên thánh cấp tốc, người đồng hành
tìm cách lắng nghe tiếng Chúa, nhận ra sự hiện diện và hướng dẫn từng con cái
của Người.
Kinh nghiệm là tiêu chuẩn
cuối cùng và cũng là một trong những phẩm tính quý giá nhất của vị đồng hành.
Ngay cả khi vị đồng hành kém hoàn chỉnh về kiến thức, thậm chí chưa khôn ngoan
đủ, thì kinh nghiệm có thể bù đắp cho những thiếu sót này. Kinh nghiệm của vị
đồng hành có thể bắt nguồn từ chính đời sống tâm linh của bản thân, cũng có thể
do quan sát và sự chỉ dẫn của người khác. Một khi vị đồng hành có kinh nghiệm
về cầu nguyện, chiêm niệm, về việc lắng nghe và gặp gỡ Chúa, về những khoảnh
khắc dường như Chúa vắng mặt, những khao khát và chán nản, thành công và thất
bại, ân sủng và tội luỵ… thì điều họ chia sẻ cho người thụ hướng không phải là
viển vông, lý thuyết, nhưng là những cảm nhận sống động. Và nhờ kinh nghiệm về
chính mình vị đồng hành trở nên bao dung với những yếu đuối, sai phạm, hoặc
những kinh nghiệm không hay của người khác.
Dĩ nhiên, không phải vị
đồng hành nào cũng có được kinh nghiệm sống động như thế, và không nhất thiết
ai cũng phải trải qua kinh nghiệm của chính bản thân mình; hơn nữa, nếu chỉ dựa
vào kinh nghiệm của bản thân, thì việc hướng dẫn đôi lúc sẽ trở nên chủ quan,
phiến diện. Do đó, vị đồng hành cần phải thu tích kinh nghiệm nhờ tiếp xúc với
hoàn cảnh sống cụ thể của họ bằng lòng nhiệt thành vô vị lợi, giúp người thụ
hướng thiết lập mối tương giao. Đặc biệt, để họ có thể tin tưởng bộc lộ tâm hồn
mình, việc lắng nghe đương sự không chỉ bằng đôi tai, nhưng bằng cả trái tim là
điều quan trọng. Vị đồng hành cũng có nhiệm vụ phải gieo vào lòng người thụ
hướng thái độ tích cực: Không phải là hối hận, đau khổ, tự ty mặc cảm, buông
xuôi thất vọng; nhưng là tin tưởng, bằng an, cảm nhận được tình thương, sự tha
thứ, và dám coi những đổ vỡ đó như cơ hội để khám phá ra sự hiện diện của Thiên
Chúa trong cuộc đời mình, ngay trong những điều tệ hại nhất của mình, nhận ra
kế hoạch của lòng thương xót, và để cho lòng thương xót chữa lành.
Tóm lại, xét về bản chất,
đồng hành thiêng liêng là một nghệ thuật, người ta có thể thủ đắc nhờ việc học
hỏi, rút tỉa kinh nghiệm; tuy nhiên, đây không chỉ thuần tuý là sự cố gắng hay
tài khéo của con người, nhưng còn là một đặc sủng, một ân ban đến từ Thiên Chúa.
Một khi ý thức mình chỉ là dụng cụ của Thiên Chúa, vị đồng hành không nên tham
vọng có thể giải quyết được mọi vấn đề của kiếp nhân sinh; và như vậy không
được để người thụ hướng chỉ dừng lại nơi mình, nhưng nhờ tri thức, sự khôn
ngoan phân định và kinh nghiệm, phải giúp họ gặp gỡ chính Thiên Chúa_ Người
chính là lý tưởng, là cùng đích để mọi người vươn tới, với xác tín rằng Người
luôn đồng hành, dẫn đưa chúng ta về với Thiên Chúa Cha. Chỉ trong Người tâm hồn
chúng ta mới hết khắc khoải, mới được nghỉ an; và lúc bấy giờ trong ánh sáng và
sự thinh lặng đầy tràn, cuộc đồng hành thiêng liêng hoàn toàn hiển lộ.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét