Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2020

Ở TUỔI TÔI...


Ở tuổi tôi, người ta thế này, hay họ thế kia ? Còn tôi thì… !
Câu hỏi vẫn thường ẩn hiện bấy nay trong đầu óc, thấp thoáng trên cửa miệng, đâu đó giữa đám đông. Người ta vẫn thế đó ! Lẽ tự nhiên, ta thường ngả mình theo kiểu “đứng núi này trông núi nọ”.
Ở tuổi tôi,
Có người đang phải chật vật với những căn bệnh tê tái xác thân từng ngày
Có người lang thang vô định trên từng con phố ngả đường
Có người la cà trong từng tiệm nét quán bar
Có người dìm mình trong thế giới của thứ ma mãnh tội tình
Có người vật lộn với từng miếng cơm manh áo
Có người lại đầy đủ tiện nghi không khi nào thiếu chẳng lúc nào vơi
Có người chìm trong bóng đêm của tuyệt vọng
Có người lại phủ đầy ánh sáng củ hào quang danh vọng.
Đủ người đủ cảnh…
Ở tuổi tôi,
Kẻ xấu người tốt
Kẻ tối tăm người rạng rỡ
Kẻ buồn đau người hạnh phúc
Kẻ nghèo hèn người giàu sang
Kẻ gồng cùm người tự do
Kẻ đói khát người đầy dư
Kẻ khốn đốn người thảnh thơi
Kẻ làm không vơi người hưởng không kịp
Kẻ thế này người thế nọ…
Ở tuổi tôi, họ thế đó còn tôi thì sao?
Ở tuổi tôi, người ta được thế này sao tôi lại phải chịu thế kia?
Ở tuổi tôi, họ như thế kia, sao tôi lại phải thế này?
Ở tuổi tôi, người ta phải chịu thế đó, sao tôi lại được hưởng thế nọ?


Trong thế khập khiễng với người, ta đâu ngờ lại sa lầy vào nhiều cạm bẫy. Bởi nó, ta có thể sẽ không đủ tỉnh táo nhận ra thứ ảo tưởng vô nghĩa về sự hoàn hảo của con người trong suy nghĩ, nó khiến ta không dễ chấp nhận một sự thật lâu nay, “nhân vô thập toàn”. Không những thế, nó còn khiến ta dễ dàng đổ lỗi cho cuộc sống bất công, khiến ta dễ nản lòng dễ chán trường hơn bình thường. Hơn nữa, cạm bẫy ấy vô tình đẩy những đồng minh của ta thành những đối thủ thật đáng gờm.

Có lẽ chuyện so chuyện sánh vẫn còn đó, “đứng núi này trông núi nọ” không dễ mất đi vì những chuyện “tỉ ti” ấy là lẽ tự nhiên của bản tính con người. Nhưng trong cái dở lại có cái hay. Mặc dầu chuyện ấy đưa đến những kết quả chẳng mấy hay ho nhưng nó cũng góp phần làm nên con người thật của ta. Sống trong các mối tương quan khác nhau, ta thường có xu hướng “soi” vào người khác để nhận biết bản thân mình và hành xử theo những gì người khác mong đợi. Ngang qua chính những kinh nghiệm cá nhân, cũng như ảnh hưởng của những người xung quanh, ta sẽ nhận ra mình: tôi là ai? Tôi sẽ là người như thế nào? Họ muốn tôi là người như thế nào?… Nhờ chính chuyện “soi mói” nhức nhối với không ít người như thế, ta có thể nhận ra mình tốt hơn. Đó như dịp thích hợp xét lại những ý nghĩ, duyệt lại thái độ, củng cố giá trị, nhất là sự tự ý thức của ta. Những điều ấy gắn liền với hình ảnh bản thân của ta. Ta luôn biết chân nhận những giá trị cao quý của mình và sống thật với những giá trị ấy dẫu vẫn còn đầy chuyện so bì dẫu vẫn không thiếu chuyện sánh ví.

Trong cái bối rối của lối đi, ta có thể thử với cách thức 3T như một gợi ý nhỏ. Đầu tiên là tỉnh thức: dù không dễ một chút nào nhưng hãy ý thức mỗi lần so mỗi khi sánh, và cẩn thận với một thế giới bí ẩn đằng sau người khác. Thứ đến là tạ ơn: tạ ơn những điều tốt đẹp đang diễn ra trong cuộc sống hằng ngày vì điều ấy sẽ giúp ta bỏ dần cái nhìn ngang liếc dọc sang “núi” người cùng lòng ghen tị trong ta. Cuối cùng là thăng tiến: biến những lần so sánh thành cơ hội thăng tiến bản thân nhờ những người tốt và lối sống đẹp của họ. Nhờ thế, ta có thể hiểu được vai trò của ta của người trong bản hợp xướng của cuộc sống. Ta chơi thứ nhạc cụ của mình, người chơi thứ nhạc cụ của họ, nhưng mỗi người đều góp phần vào thành công của buổi biểu diễn ấy, và không ai có thể thay thế được ai.

Hơn nữa, dù người có rõ thế nào, hay ta có tỏ ra sao, thì những cái rõ cái tỏ ấy sánh sao với sự tỏ tường của Thiên Chúa, Đấng thấu suốt mọi sự (x. 2 Cr 2,20). Nếu nhờ tương quan với người khác giúp ta biết mình thế nào, thì tương quan với Thiên Chúa còn giúp ta hiểu thấu chính mình hơn biết bao. Mỗi thời, mỗi nơi, mỗi tuổi, ta sẽ có những nét, những giá trị riêng để khám phá sứ mạng của mình trên cõi đời này để những so sánh kia, những cái nhìn kia “khập khiễng” không lìa xa thực tế, hiện tại của mỗi người. Thiên Chúa vẫn đang nâng niu từng người, chăm sóc ta và người theo cách rất riêng. Trong Người, ta là ta chứ không phải người ta.

Lyeur Nguyễn
Nguồn: https://dongten.net/2020/05/17/o-tuoi-toi/

TÔI LÀ TÔI


Mỗi người sinh ra trên thế giới này đều có tính độc nhất. Tôi là tôi, chứ tôi không là người khác. Cũng chẳng ai khác trên đời này có thể thay thế được chỗ đứng mà Tạo Hoá đã dành cho tôi khi đưa tôi vào hiện hữu, dù người đó có tài giỏi đến mức nào, cao sang đến mức nào, giàu có đến mức nào hay thậm chí là gần gũi với tôi đến mức nào. “Tính độc nhất” này, ai trong chúng ta cũng biết, nhưng ít bao giờ chúng ta để tâm đến và sống chiều kích ấy một cách toàn vẹn. Cái mà người ta vẫn hay gọi là “nên thánh”, xét ở một khía cạnh nào đó, dường như cũng chỉ là trở về với cái “là-chính-mình”, đón nhận nó và thể hiện nó trong đời sống với một lòng biết ơn sâu thẳm.
Ừ, tôi là tôi, tôi cứ sống như tôi là, tôi cứ phô bày ra trước mắt người khác một hình ảnh thật sự của tôi. Chẳng cần phải đeo mặt nạ, chẳng cần phải giả vờ hay chẳng cần phải gắng gượng tìm một cái gì đó thật đẹp để tô vẽ bản thân. Tôi không sống hai lòng, không có hai bộ mặt, không có hai con tim, không thay đổi cách ứng xử như chong chóng, không tìm mọi cách để hùa theo đám đông, không ép mình phải làm theo sở thích của người khác… Tôi sống cuộc sống của tôi, tôi không huỷ hoại tôi chỉ vì muốn làm người khác vui, tôi không khoác lên mình một hình ảnh giả tạo nào đó mà tôi thấy chẳng thoải mái chút nào…
Có nhiều khi tôi hay thích so sánh mình với người khác, thấy người ta sao tài giỏi, hào hoa, còn mình sao bất tài yếu kém. Nhìn đến người ta mà thấy tủi cho bản thân mình. Một thái độ đặt lên bàn cân so sánh với thái độ tiêu cực như vậy chẳng khác nào tự huỷ diệt hạnh phúc của mình. Người khác là người khác, chẳng có lý do tôi phải giống người khác. Và nếu tôi sinh ra cũng giống như người khác thì sức sáng tạo của Tạo Hoá thật nghèo nàn và kém cỏi quá chừng. Ai cũng có thế mạnh và điểm yếu riêng. Mỗi người đều có một đặc nét làm nên tính cá vị của người đó. Thái độ so sánh thường dẫn ta đến chỗ tự ti, trách móc, phàn nàn, khiến ta không thấy được tính bản chân của riêng mình, không thấy được những gì mình đang có là một hồng ân, một quà tặng lớn lao của Tạo Hoá.
Có nhiều khi tôi sống mà chẳng phải là sống cho chính mình. Tôi trở nên “tha hoá” giữa dòng đời đưa đẩy. Tôi không dám theo đuổi đam mê. Tôi không dám bày tỏ chính kiến. Tôi phải gồng mình để gìn giữ một diện mạo nào đó không phải của tôi. Tôi cười vì người khác, chứ không phải vì tôi. Tôi buộc phải nói những lời không xuất phát từ con tim tôi. Tôi cố gắng hành xử theo một cách thức ngược hẳn với phong cách của mình. Bỗng chốc, tôi phát hiện hình như mình đang sống cho ai đó, cho cái gì đó, chứ không phải cho chính mình. Tôi đã đánh mất tôi từ lúc nào không biết. Để rồi, khi không còn ai ở bên, tôi thấy mình lạc lõng như cánh bèo bị con nước đẩy đưa; thấy cô đơn chán chường vô cùng tận; thấy cuộc đời sao đầy những lọc lừa, giả tạo; thấy mất đi ý nghĩa của cuộc sống; thấy thế gian chỉ là một màn kịch chán ngắt chẳng bao giờ ngừng; thấy từng giây phút trôi qua là những trò đùa vô bổ; thấy từng nhịp đập và hơi thở là những tiếng ngao ngán của tâm hồn…
Bởi thế, hạnh phúc chỉ đơn là được sống trong cái chân lý đơn giản “tôi là tôi”. Tôi được trở về là chính bản thân mình một cách tự nhiên như nó vốn dĩ, không một chút gượng gạo khó chịu nào. Đón nhận bản mình như nó là, là một lời cảm ơn chân thành nhất dành cho Tạo Hoá, Đấng đã cho ta hiện hữu như thế, Đấng đã ưu ái tạo nắn ta là một cá thể độc lập duy nhất giữa vũ trụ bao la này, chứ không đưa ta vào một quy trình sản suất hàng loạt. “Tôi là tôi”, hệt như con chim tung bay trên bầu trời, thoả sức soãi cánh chơi đùa với những tầng mây, du ngoạn từ đỉnh núi này đến đỉnh núi nọ, chứ không bị nhốt trong lồng để chỉ làm trò vui cho người khác.
“Tôi là tôi” chính là sống lời mời gọi làm chủ bản thân mình. Tôi là chủ nhân của chính tôi, tôi là người chịu trách nhiệm cho cuộc sống của mình, tôi là người quyết định hạnh phúc của mình. Tôi chẳng nhất thiết phải sống theo một hình ảnh nào đó người ta gán cho tôi mà tôi thấy nó chẳng phù hợp với mình. Tôi không chối bỏ những khuyết điểm của mình nhưng sẵn sàng nhìn nhận nó và từ từ sửa đổi. Tôi khảng khái nhìn ra những tài năng của bản thân và dùng nó để giúp mình được triển nở cũng như để cống hiến cho xã hội. Tôi biết tôi thích điều gì và tôi quyết tâm theo đuổi nó để xây đắp niềm hạnh phúc. Còn điều gì tôi không thích, thì đơn giản là không thích thôi, chứ chẳng cần phải giả vờ là thích.
Mọi cái đều sẽ qua đi, danh vọng, sắc đẹp, công việc, tiền tài… ông bà, cha mẹ, người thân, bạn bè… chỉ còn lại một cái duy nhất sẽ đi với tôi mãi: đó chính là tôi. Đây là cái gốc của tôi. Dù chuyện gì có xảy ra đi nữa, tôi vẫn cứ là tôi. Đây là người bạn duy nhất chẳng bao giờ lìa khỏi tôi. Cuộc hành trình dương gian, cuộc hành trình đi tìm hạnh phúc, chính là cuộc hành trình đi tìm lại “bản thân tôi” mà bấy lâu nay tôi đã đánh mất. Hay nói đúng hơn, đó là một nỗ lực gột rửa những lớp bụi bẩn đang bấu víu con người mình, để tôi được trở về là chính mình, sống cuộc sống của mình theo một cách thức chân thực và hoàn hảo nhất.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

CÁI SAI CỦA CHÚNG TA

Trong tương quan với người khác, cái sai của chúng ta là lúc nào cũng cho mình đúng. Ừ thì cũng có lúc mình đúng nhưng điều đó đâu có nghĩa là chẳng bao giờ ta sai. Nói lời nào, đưa ra quyết định gì, dĩ nhiên ta luôn có lý lẽ cho nó, nhưng luôn cho mình là trọng tâm của chân lý để rồi buộc người khác phải luôn nghe mình, làm theo những gì mình muốn là một cái sai vô cùng trầm trọng. Cho mình đúng, ta bịt tai trước người khác, ta phủ nhận mọi điều khác. Ta cãi chày cãi cối để chứng minh mình đúng. Dù có khi biết rõ là sai, ta vẫn cứ cố gắng lấp lem, bẻ cong chân lý, lôi kéo chân lý về phía mình.

Cái sai của chúng ta là hay vội vàng kết án người khác. Ta kết án ngay cả khi chưa biết rõ trắng đen thực hư câu chuyện thế nào. Ta kết án chỉ vì người khác không hành xử theo những đòi hỏi và tiêu chuẩn của bản thân. Thêm vào đó, một thái độ vội vàng làm cho những phán đoán của chúng ta trở nên thiếu cơ sở. Chẳng biết từ đâu, ta lại tự cho mình vị thế của một quan toà, đem người khác vào vòng suy diễn của ta rồi gán cho họ những nhãn mác của riêng ta. Con người xa cách nhau có lẽ cũng vì như thế.

Cái sai của chúng ta là chỉ biết xăm xoi người khác mà thiếu nhìn đến bản thân. Ta luôn đủ lý do để bao che và bào chữa cho những sai lầm to lớn của mình, chứ khi ít nào chịu thông cảm cho một lỗi nhỏ li ti của người khác. Ta yêu bản thân mình, phải, đó là điều tốt, nhưng yêu đến mức làm ngơ những điểm tối của bản thân là điều không thể chấp nhận. Phải chăng do đôi mắt luôn hướng về phía trước nên ta chỉ nhìn thấy người khác, chứ không thể nhìn ngược lại bản thân? Thử một lần nào đó soi gương chính mình, ta sẽ thấy những điều ta không thích nơi ngươi khác, hoá ra lại là phản chiếu những khuyết điểm của chính ta.

Cái sai của chúng ta là luôn ảo tưởng, xếp mình ở vị trí trung tâm của vũ trụ, luôn muốn người khác dòm ngó đến mình, mà quên mất rằng giữa cuộc đời này, ta chẳng là gì và suốt dòng chảy của lịch sử, mỗi chúng ta chỉ là những chấm nhỏ tạo thành. Nếu cuộc sống này là một câu chuyện dài thì ai trong chúng ta cũng là vai chính và đồng thời cũng là vai phụ. Ta có một truyện đời của mình nhưng người khác cũng có cái của riêng họ. Có là trung tâm của vũ trụ hay không dường như không phải do ta tự quyết định. Thử hỏi, giữa thế giới này, có bao nhiêu người biết đến ta, rồi trong số đó, có bao nhiêu người thân thiết với ta, có bao nhiêu người xem ta là quan trọng với họ, có bao nhiêu người khóc cho sự ra đi của ta, có bao nhiêu người vì sự biến mất của ta mà cũng không còn tồn tại. Ít lắm, phải không?

Nếu có một ngày nào đó, khi ta bị tách biệt ra khỏi mọi người, phải sống cô đơn cô độc giữa một chốn hoang vu hay một nơi xa lạ, ta sẽ thấy được niềm hạnh phúc lớn lao khi có được ai đó sống bên cạnh mình, trò chuyện với mình. Những ai sống tha hương nơi đất khách quê người hẳn cũng có kinh nghiệm tương tự khi bất chợt trên đường phố nghe ai đó nói ngôn ngữ của mình, bằng giọng nói thân quen. Sao gần gũi và thân thương đến lạ! Tình người vốn dĩ là cái gì đó thật cao quý và chẳng điều gì có thể so sánh hay thay thế được. Vậy mà dường như lắm lúc ta không đủ trân trọng nó. Mất đi rồi, ta mới thấy hối tiếc. Hai con chó không quen biết nhau bị nhốt chung một chuồng. Ban đầu chúng còn cắn xé nhau, tranh giành nhau miếng ăn, nhưng sau đó thì trở nên thân thiết. Hai con người sống chung với nhau, ban đầu thì lịch sự đối đãi tốt với nhau, nhưng dần dần lại trở nên xa cách, thậm chí còn là kẻ thù không đội trời chung với nhau. Tại sao vậy?

Con người trở nên cao cả hay nhỏ mọn hệ ở việc người đó có sống chữ “tình” hay không. Đánh mất đi đặc tính vĩ đại này, con người bị xem là “không bằng loài cầm thú”. Trong cái tình ấy, có một chút bao dung, có một chút thứ tha, có một chút thương xót. Trong cái tình ấy, còn có cả sự hy sinh, nhẫn nhịn, chia sẻ. Tránh sao được những lần đụng chạm nhau, xung đột nhau vì những lợi ích này kia, nhưng giá như con người biết đặt chữ “tình” lên trên hết, hẳn là họ sẽ dễ dàng vượt qua được tất cả những hiềm khích và chia rẽ. Đó là bởi vì khi người ta sống bằng tình nghĩa, người ta không dùng quá nhiều lý trí để tính toán thiệt hơn cho bản thân, người ta đủ can đảm để im lặng nhằm tránh những cuộc cãi vả không cần thiết, người ta biết nhìn lại bản thân và dành một sự tôn trọng cho người khác.

Hạnh phúc của chúng ta tỉ lệ thuận với mức độ ta mở ra với thiên nhiên vạn vật và người khác. Càng mở ra, ta càng thấy mình cần phải nhỏ lại để được lớn lên. Để giữ gìn tình cảm giữa con người với nhau, tất cả phải cùng chung tay, tất cả phải có lúc chịu chút thiệt thòi và có khi phải chấp nhận lùi bước. Đừng trượt đi quá dài trong con đường cố chấp và bảo thủ, vì cái sai của chúng ta chính là từ chỗ này mà phát xuất ra, làm huỷ hoại những tương quan tốt đẹp của chúng ta và làm héo úa chính cuộc sống của chính ta nữa.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

ĐỂ CHO NỖI ĐAU LÊN TIẾNG


Nhiều năm về trước, khi tôi còn nhỏ, tôi được chứng kiến sự thay đổi của một chú chó, và nó có tác động rất lớn đến tâm thức của tôi.
Nhà tôi có nuôi mấy con chó, đứa nào cũng dễ thương vui vẻ. Nhưng có một con tính khí vô cùng nanh nọc, độc ác. Lúc nào cũng gầm gè như muốn cắn người đến nơi vậy!

Vào một ngày nọ, con chó đó mang bầu, càng ngày nó càng dữ dằn hơn. Không ai có thể đến gần được nó. Nó đã làm đau rất nhiều con khác trong nhà, trong làng… ai ai cũng khiếp sợ. Nhiều đứa trẻ mưu tính trả thù con chó khi có cơ hội, vì biết bao lần bọn chúng phải “tóe khói” vì nô đùa trước mặt nó. Nói chung là không ai ưa nó, nhiều lần tôi ném cho nó mấy gậy, tưởng chết được đến nơi rồi ấy! Nhưng sự ma lanh của nó luôn luôn chiến thắng tôi.

Rồi thời khắc chuyển dạ cũng đến, do chưa có kinh nghiệm làm mẹ nên các con của nó chết hết. Và chó mẹ thì rất yếu sức, nhìn rất tội nghiệp. Nằm bẹp một chỗ, không ăn không uống, lúc nào cũng chảy nước mắt. Thi thoảng nó chạy như điên đi tìm con, rồi yếu quá lại nằm một chỗ.

Thời khắc đó mẹ tôi bảo với tôi: “Vì yêu. Nên chó mẹ ra sức bảo vệ đàn con của nó, giờ đây nếu không chăm sóc tốt cho nó, con chó này dễ đi theo mấy đứa con của nó”. Mẹ tôi đã chăm sóc, lo lắng từng ly, từng tý một cho nó, nấu cháo cho nó ăn rồi mang nước vào hầu nó mỗi ngày… nó thay đổi lắm, không còn hoạnh họe hay cằn nhằn mỗi khi có người đi ngang nó nữa, mấy chị em của nó thì nằm cùng nhau, mấy đứa còn liếm vết thương chảy máu của nó, được một thời gian thì nó lành lặn trở lại, tôi đoán là cả thể xác và tâm hồn nó. Nó trở nên ngoan và hiền như mấy đứa kia, và cuộc sống của nó từ đó cũng thay đổi. Khi mẹ tôi chăm sóc cho con chó, tôi vẫn hay loay hoay đứng xem, nhưng chả bao giờ lại gần. Mẹ vẫn hay nhắc tôi:

“Nó đã đau rồi, nếu không yêu thương được nó thì cũng đừng làm nó đau thêm”.
“Nó vốn dĩ yếu thế hơn mình, mình phải bảo vệ nó bằng mọi giá. Phải tập thói quen yêu thương, cảm thông cho nỗi đau của người khác, không chỉ dừng lại ở con chó tội nghiệp này, mà cao hơn nữa. Ai trong đời này cũng đều có những nỗi đau riêng của mình”. Điều đó với tôi thực sự là rất khó hiểu!

Có lẽ bài học về cuộc đời đầu tiên, manh mún lên trong trí óc non nớt của tôi được khởi lên từ đó. Sau này, khi có những cơn đau trong đời, tôi mới thấu hiểu được giá trị của lời mẹ dặn năm xưa. Sinh ra làm người, ai cũng có những niềm đau riêng. Chỉ là có người sẽ thể hiện ra, có người sẽ dấu nó theo một cách riêng nào đó. Bước đi trong hành trình cuộc đời, tôi nhìn và nhận thấy rất nhiều điều.
Đặc biệt khi bước đi trong hành trình của một người học theo Thầy Giê-su.

Tôi đã học được cách để cho niềm đau lên tiếng, học cách tự xoa dịu nỗi đau của chính mình. Cũng từ đó tôi học cách cảm thông cho niềm đau- nỗi khổ của người khác, không còn muốn trừng phạt, chà đạp lên những con người đã làm đau tôi nữa mà chỉ muốn được giúp đỡ, muốn được ôm lấy cả những nỗi đau không chỉ của riêng mình mà cùng hiểu-cùng đau trên con đường tu tập.

Nhiều người đến và đi qua cuộc đời tôi, có những câu chuyện vẫn còn sống với tôi cho đến tận bây giờ. Tôi nhận ra trong những người đã trưởng thành vẫn còn đó một đứa trẻ, một đứa trẻ mang thương tích mang nỗi đau, đứa trẻ vẫn luôn mong muốn được chữa lành.

Những chấn thương tâm lý từ gia đình, cha mẹ, bạn bè, thời thơ ấu… sẽ làm gián đoạn quá trình phát triển lành mạnh của một đứa trẻ, điều này sẽ tạo ra những tổn thương, những sang chấn tâm lý trong đứa trẻ…Từ những phản xạ đó, chúng ta lại trao nỗi đau cho người khác. Và cứ thế chúng ta làm đau nhau trong vô thức.


Các bậc làm cha làm mẹ chưa thực sự thể hiện được vai trò của mình trong việc cung cấp và hỗ trợ các nhu cầu lành mạnh của con trẻ. Hậu quả rõ ràng cho việc đó là quá trình phát triển thần kinh cùng tâm lý bình thường và lành mạnh của trẻ từ sơ sinh cho tới giai đoạn trưởng thành bị gián đoạn nghiêm trọng.

Một điều dễ nhận thấy ở hầu hết các cặp vợ chồng khi gặp những tổn thương trong quá khứ và chưa được chữa lành lại tiếp tục truyền lại thương tích đó cho những đứa con của họ, và vô tình giữa cha mẹ và con cái có một khoảng cách vô cùng to lớn mang tên: “Thế hệ”. Họ đổ lỗi cho nhau; làm nhau đau, bước qua đời nhau với vô vàn những sai khuấy không được giải tỏa.

Carter là một bà mẹ có đứa con gái 15 tuổi tên Kaneesha trong bộ phim Clean on me. Vì cô có Kaneesha lúc cô 15 tuổi, nên cô cho rằng đứa con của cô cũng có thể đứng vững trên đôi chân của mình nên cô buộc con gái của mình thôi học và phải sống tự lập như cô. Vì có Kaneesha nên cuộc đời Carter đã phải nghỉ học, sống không hạnh phúc, lúc nào cũng về nhà lúc nửa đêm và không có sự sống. Cô đay nghiến cuộc sống của mình và một cách vô tình Carter làm tổn thương con gái cô. Đôi khi, trong cuộc sống; chúng ta yêu nhau nhưng chưa phải cách, và vô tình nhận về vô số những tổn thương.

Để có thể tồn tại, bản ngã thực sự của đứa trẻ- thứ đã bị tổn thương nghiêm trọng phải lẩn trốn vào sâu bên trong tầng vô thức của tâm trí. Thứ xuất hiện bên ngoài là một bản ngã hay tiềm thức giả mạo và nó đang cố gắng giành quyền kiểm soát cuộc đời của chúng ta nhưng không thể thành công. Đơn giản, bởi vì nó chỉ là một cơ chế phòng vệ để tránh không bị tổn thương. Như tôi đã nói, trong vùng vô thức của mỗi người thì nó vẫn tồn tại ở đó, rất sống động và sẵn sàng “sống lại” bất cứ lúc nào có dịp.

Người ta thường nói, con người lớn lên từ những vấp ngã, trưởng thành từ những tổn thương và thật sự hoàn thiện khi nó dạy cho những nỗi đau biết cười. Bất kì ai khi tồn tại trên mặt đất cũng đều phải đối diện với những nỗi đau của riêng mình, đều phải chịu những thương tích, những nỗi đau. Cuộc sống không có sự ngoại lệ và ưu ái dành riêng cho một ai đó trong hành trình này.

Cùng đón nhận những nỗi đau, có người trở nên cứng cáp, bản lĩnh, lại có người rụt rè, hèn nhát. Cùng đứng trước thất bại, có người mạnh mẽ đứng lên, có người thu mình trong tiếc nuối, hoang mang, hoảng sợ. Trong đời, tất yếu rằng ai rồi cũng khác, ai rồi cũng phải thay đổi, chỉ là nó đến sớm hay muộn mà thôi. Điều gì làm ta thay đổi không quan trọng bằng ta thay đổi như thế nào. Tốt hơn hay xấu đi? Tích cực hơn hay tiêu cực đi? Là do chúng ta lựa chọn và nhận lấy.

Có lẽ, khi chúng ta gọi tên chính xác những gì đã xảy ra với chúng ta, chúng ta sẽ học được cách cho phép bản thân trải qua những nỗi đau cảm xúc thay vì tránh né nó. Để nỗi đau có một tiếng nói và ý nghĩa nhất định trong cuộc đời, để ta có thể yêu được cả những nỗi đau của mình khi đã trải nghiệm nó, mặc dầu không hề dễ chịu tý nào. Và có lẽ chính những nỗi đau đó làm ta không ngừng lớn lên và trưởng thành hơn, để chúng ta sống trọn vẹn và hết mình với đời, với người. Đi qua những cơn đau, để ta biết, nó không riêng mình ta.
Có lẽ khi ta cho phép mình được trải nghiệm nỗi đau bao lâu nay bị đè nén, cho phép bản thân được quyền đau khổ. Hành trình dai dẳng đó cần một chút nhẫn nại và chịu đựng, cần một chút phó thác và tin tưởng…chúng ta dần dần giải phóng bản thân khỏi những giằng xé nội tâm chưa được giải quyết suốt nhiều năm qua.
Qua đó, để biết rằng: Cuộc sống là cái gì đó đang đi qua trong khi bạn sao nhãng, quá khứ là chuyện đã xảy ra, tương lai sẽ luôn là một điểm đến còn chưa xác định. Chỉ có trong hiện tại, bạn được sinh lại từng ngày, từng ngày với con tim và đôi mắt mới.
Tôi vẫn luôn tin rằng, hôm nay là ký ức của ngày mai, cuộc đời là sự cộng dồn những ký ức và những ký ức tạo ra cuộc đời. Tôi không biết phía trước sẽ xảy ra những chuyện gì, sẽ ra sao, như thế nào, tôi thực sự không biết. Nhưng tôi biết chắc một điều, tôi phải sống hết mình trong giây phút hiện tại của cuộc đời, tròn đầy nhất, trọn vẹn nhất. Để một mai tôi không phải hối tiếc về những gì tôi đã sống và để tôi tự chữa lãnh những nỗi đau của chính tôi. Còn bạn thì sao?

Que Diem
(quenguyen.ajc@gmail.com)


LỰA CHỌN NGÀNH NGHỀ, SỰ NGHIỆP DƯỚI GÓC NHÌN ĐỨC TIN


Theo dòng chảy rất tự nhiên về sự lớn lên và phát triển của một người trẻ hiện đại, kết thúc việc học cấp ba là thời gian chuẩn bị thi Đại Học hoặc tìm kiếm một công việc cho tương lai. Đó cũng là trào lưu chung của xã hội ngày nay: học để có cái nghề, ra trường đi làm có công ăn việc làm ổn định, lương cao. Đây là mơ ước của biết bao bạn trẻ và các bậc phụ huynh. Vậy nên cũng là điều dễ hiểu khi ta thường nghe những lời đồn đại, những tiêu chí đánh giá về sự thành công của một người như lương tháng của nó bao nhiêu, mới ra trường mà nó đã làm giám đốc, lương mấy chục triệu… Nghe thì cũng có vẻ ổn nhưng liệu đó có phải là tất cả đối với một người có đức tin, đặc biệt là những người trẻ? Lối nghĩ về kiểu thành công này có gì bất ổn chăng?

Dường như điều này cũng làm tăng thêm áp lực cho những bạn sinh viên nào chưa có công việc ổn định, hoặc lương tháng còn lẹt đẹt…. Có khi “sóng trước đổ đâu sóng sau đổ đó”: các em học sinh cấp ba chuẩn bị tốt nghiệp cũng dễ dàng được hướng nghiệp như thế, và chỉ như thế, theo một cách thức và lối nghĩ như thế. Đây thực sự là mối nguy ngại cho những người có đức tin khi đang sống trong một môi trường tràn ngập hệ tư tưởng vô thần hoặc thuần thế tục. Lý do là bởi trong việc nhìn nhận ngành nghề hiện nay, ta vô tình dễ có xu hướng bỏ chiều kích đức tin sang một bên; hoặc nếu không thì Chúa cũng có thể chỉ là một hình bóng theo sau, phụ giúp cho những kế hoạch và toan tính của ta trong cuộc đời. Nói cách khác, Chúa có thể được biến thành “phương tiện” cho những lối nghĩ rất “đời” của ta nếu không muốn nói là “môn đệ của ta” thay vì “ta là môn đệ của Chúa”.

Tại sao chúng ta không để đức tin đi đầu và dẫn dắt mọi đường lối, việc làm, dự tính của chúng ta? Khi đó, Chúa sẽ làm chủ mọi dự tính của ta và mọi việc ta làm đều được quy hướng về Chúa và việc phụng sự Ngài. Điều này đã được thánh I- Nhã diễn tả như Nguyên Lý Nền Tảng trong Linh Thao số 23: “ Con người được dựng nên để ngợi khen, tôn kính và phụng sự Thiên Chúa”. Sự thành công và hạnh phúc thực sự khi đó sẽ không còn phụ thuộc vào những giá trị thế gian như tiền bạc, địa vị, danh vọng hay sự thành công ở đời của người khác…

Trong đức tin vào Thiên Chúa toàn năng là Cha yêu thương, chúng ta được mời gọi để quy hướng toàn bộ đời sống của mình vào Thiên Chúa, không chỉ trong những lúc khó khăn hay thành công nhưng cả trong những lựa chọn mang tính quyết định dài lâu trong cuộc đời. Cũng như người con khi bước đến tuổi phải chọn hướng đi cho cuộc đời cần tham khảo ý kiến của những người đi trước, có thể là cha mẹ mình nếu họ là những người có kinh nghiệm, thì chúng ta cũng được mời gọi để lắng nghe tiếng Chúa khuyên bảo trong một cách thức nào đó. Nơi Ngài, ta có thể khám phá ra sự thật về bản thân mình cách rõ nét hơn để nhờ đó ta có thể bước vào đời với những chọn lựa vững chắc hơn và tự tin hơn. Đó có thể là một tiếng gọi để thấy một tầm nhìn lâu dài trong những con đường của kiếp nhân sinh: ơn gọi sống đời tu, ơn gọi lập gia đình hay ơn gọi sống độc thân giữa đời. Nhiều bạn trẻ khi nghe đến hai chữ “ơn gọi” thì nghĩ ngay đến hình ảnh đời tu, còn mình thì không có “ơn gọi”. Như thế, họ đang hiểu sai và tự tách mình ra khỏi ân sủng của Thiên Chúa khi chỉ tâm niệm những người đi tu mới được gọi, mới có “ơn gọi”. Nhưng trong đức tin, mỗi người đều được gọi vào một bậc sống nào đó và đều có chỗ đứng trong kế hoạch của Thiên Chúa. Đời sống của mỗi người đều là sứ mạng trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Vậy nên, học sinh sinh viên, nếu được định hướng và gắn kết trong đức tin thì mỗi bạn trẻ cũng đang thi hành sứ mạng của mình trong kế hoạch và ơn gọi của Thiên Chúa. Các bậc sống khác cũng tương tự như vậy.

Đó là những bậc sống và hướng đi “đường dài”, xuyên xuốt một đời người và chắc chắn sẽ cần đến thời gian nhất định để có thể đạt đến quyết định chín muồi. Nhưng điểm xuất phát để bắt đầu cuộc hành trình tìm kiếm là rất cần thiết. Đặc biệt trong giai đoạn người trẻ chuẩn bị tạo lập sự nghiệp. Nếu không có xuất phát, không bao giờ nghĩ đến nó thì cũng khó có thể quyết định chín chắn và trưởng thành. Song song với đó là việc xác định điều mình thực sự muốn học trong thời kì tích lũy và học hỏi trên giảng đường. Nhưng làm thế nào để xác định được điều này? Đây thực sự là một câu hỏi khó! Thật không dễ để xác định được trong một sớm một chiều đối với nhiều bạn trẻ. Tuy nhiên chúng ta có nhiều nguồn hỗ trợ khác nhau. Thường thì xu hướng chung là sẽ xem xã hội nay cần gì và ngành gì đang hót, lương cao, ra trường dễ kiếm việc,… Đây có thể được coi là yếu tố “địa lợi”. Ấy vậy mà có những bạn khi đã chọn rồi thì sau một vài năm học thấy không hợp và không thực sự thích nữa; một phần có thể là do yếu tố xã hội thay đổi làm cho ngành đó không còn “hot” nữa. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều bạn ra trường thì quay cuồng, làm gì cũng được… Như thế là yếu tố “nhân hòa” chưa có.

Vậy cần thêm điểm gì? Thiết nghĩ, yếu tố đầu tiên và cũng tối quan trọng mà chúng ta dễ bỏ quên là “thiên thời”. Đó là ý Chúa nơi mỗi người chúng ta. Như đã nói ở trên, điểm xuất phát là điều quan trọng trên hành trình tìm kiếm ý Chúa trong cuộc đời. Nơi phát xuất ấy là chính trong thâm tâm của mỗi người. Quả thực, Thiên Chúa đã đặt để và mặc khải về mỗi người chúng ta qua sự phát triển tự nhiên. Bạn có thể thường xuyên đặt những câu hỏi: Tôi thực sự muốn gì trong cuộc đời này? Chúa muốn tôi làm gì cho đẹp lòng Người nhất? Tôi muốn làm gì cho Chúa? Đâu là điểm mạnh của tôi? Và thậm chí đâu là điểm yếu của tôi?… Đó là những điểm chốt hé mở cho ta ý định của Thiên Chúa trong cuộc đời. Những câu hỏi như thế có thể được hỏi trên suốt hành trình làm người và trên hành trình tìm kiếm ý Chúa; cho dù bạn đang là học sinh, sinh viên hay đã ra trường và thậm chí đang theo đuổi ơn gọi trong một bậc sống nào đó. Kế đến, bối cảnh xã hội quanh ta và các xu hướng thời đại mới nên được đưa vào cân nhắc và xem xét để tạo nên yếu tố “địa lợi”. Chắc chắn ý hướng để phục vụ Chúa thì cao cả hơn nhiều so với việc chỉ “đơn thuần” làm thế nào để kiếm được việc làm lương cao. Mặc dù điều đó là tốt và chính đáng, nhưng thiết tưởng cái gì cũng có trật tự đúng của nó. Cuối cùng mới là yếu tố “nhân hòa”- thời điểm mà chính bạn phải là người cân đong đo đếm và đưa ra quyết định cho chính mình về tất cả những dữ liệu đã được Thiên Chúa trao tặng và mời gọi. Như vậy, tiến trình này gần như đi ngược hẳn với tiến trình của não trạng trước đó: “Thiên- Địa- Nhân” thay vì “Nhân- Địa- Thiên”. Chắc chắn tiến trình này cần thời gian và nỗ lực tìm kiếm bản thân trong đức tin và Thánh ý Chúa, nhưng nó am hợp với một đức tin sống động thay vì một đức tin “chết”. Đồng thời, một khi đã tìm ra rồi thì bạn xứng đáng sống một cuộc sống tròn đầy theo ý Chúa và trong sự cộng tác đắc lực với kế hoạch của Ngài.

Hy vọng trước cánh cửa tương lai tràn đầy hy vọng và sự năng động của sức trẻ, mỗi người, nhất là các bạn trẻ sẽ sớm khởi hành hành trình tìm kiếm ấy để đến một lúc viên mãn sẽ đi đến việc chọn lựa cho mình một con đường, một sứ mệnh trong kế hoạch của Thiên Chúa. Bất cứ người Kitô hữu nào cũng được mời gọi phải phân định đâu là con đường Chúa mời gọi mình, đâu là tương lai mà Chúa đang đón đợi… Như thế, người trẻ dám tuyên xưng niềm tin của mình trong thế giới thực: nơi trường học, giảng đường, công sở hay trên bất cứ nẻo đường mà mỗi người đang dò dẫm và bước đi. Bởi chính nơi đó, Chúa Giêsu xưa cũng đã có một thời trẻ trung và khắc khoải như bạn để tìm ra con đường được Chúa Cha mời gọi và Ngài đã tiến bước, đưa đức tin hòa nhập vào cuộc sống, biến cuộc sống thành sứ mạng. Ngày nay, Người cũng đang đồng hành với mỗi người chúng ta trên bước đường xây dựng và bảo vệ Nước Trời – một “Tổ Quốc linh thiêng”. Vậy đâu là vị trí, vai trò, trách nhiệm và bổn phận của tôi trong Vương Quốc ấy? Sứ mạng của tôi với tư cách là người trẻ là gì? Câu trả lời sẽ tùy thuộc ở bạn trong nỗ lực khám phá bản thân dưới ánh mắt của Chúa!

Văn Toàn, S.J.

THỬ TÌM MỘT ĐỊNH HƯỚNG CHO TRUYỀN THÔNG CÔNG GIÁO VIỆT NAM


Hướng về Ngày Thế Giới Truyền thông Xã Hội (Lễ Chúa Thăng Thiên), Ki-tô hữu chúng ta được mời gọi tìm hiểu và suy tư về chủ đề này, hầu có thể sử dụng hợp lý phương tiện truyền thông theo tinh thần Tin Mừng. Bài viết này mang nặng tính ‘đặt móng’, với hy vọng chỉ ra một định hướng nền tảng, dưới nhãn quan Ki-tô giáo, cho truyền thông xã hội Việt Nam. Cụ thể, bài viết trình bày ba điểm chính: thứ nhất, lược lại bản chất và ý nghĩa truyền thông theo Ki-tô giáo; thứ hai, nhìn lại thực trạng truyền thông xã hội của Việt Nam hiện nay và những thách đố của nó; thứ ba, nghĩ về một định hướng căn bản để trả lời cho những thách đố đó qua việc suy gẫm về Mẹ Maria như một gương mẫu tuyệt vời của truyền thông theo tinh thần Tin Mừng.

Bản chất và ý nghĩa của truyền thông theo Ki-tô giáo

Đâu là bản chất và ý nghĩa của truyền thông (theo nghĩa chung nhất) từ nhãn quan Ki-tô giáo? Căn bản của truyền thông theo tinh thần Tin Mừng có nền tảng từ Mầu nhiệm Tình Yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Năng động của mối quan hệ giữa Ba Ngôi chính là sự trao ban, thông truyền và kết hiệp. Vì thế, như lời của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, “tự bản chất, tình yêu là truyền thông; tình yêu dẫn đến mở ra và chia sẻ.”[1] Trong ý nghĩa đó, Mầu nhiệm Tình Yêu Ba Ngôi chính là điểm quy chiếu trong mọi khía cạnh bản chất của truyền thông: Ba Ngôi vừa là chủ thể truyền thông, vừa là Đấng truyền thông, vừa là nội dung truyền thông.

Từ nguồn mạch của Ba Ngôi, con người được tham dự vào ơn gọi truyền thông đó. Cách cụ thể, ơn gọi truyền thông của chúng ta chính là việc sống hai chiều kích cơ bản của con người: (1) mở ra, hay đi ra khỏi chính mình – ex-sistere; và (2) tương quan – tương quan với thọ tạo, với tha nhân, và với Thiên Chúa. Như thế, truyền thông không đơn thuần là một công việc hay một sứ mạng, mà là một ơn gọi sống triển nở cuộc đời theo bản chất con người. Từ ý nghĩa lý tưởng mang tính quy chiếu này của truyền thông, chúng ta thử cùng nhau xét duyệt lại một phạm vi nhỏ hơn: truyền thông xã hội, trong bối cảnh cụ thể của mình: xã hội Việt Nam.

Thực trạng và hệ quả của truyền thông xã hội Việt Nam hiện nay

Tất nhiên, đưa ra một bức tranh vừa tổng quát vừa chi tiết về thực trạng truyền thông của một quốc gia là một việc làm lớn và cần có những nghiên cứu căn cơ. Bản thân tôi không có chuyên môn về lãnh vực này, nên không có tham vọng làm việc đó, cũng như không dám khẳng định chắc chắn những nhận xét của mình. Tuy nhiên, dựa vào quan sát và kinh nghiệm bản thân, tôi mạo muội tổng hợp một số nét nổi bật của truyền thông xã hội tại Việt Nam hiện nay:

Trước hết, nếu xét theo tiêu chí số lượng, có thể nói truyền thông xã hội ở Việt Nam hiện tại đã ở mức khá phát triển. Về báo chí, tính đến ngày 30/11/2019, có 850 cơ quan báo chí, tạp chí được cấp phép hoạt động[2] Hầu như tỉnh thành nào cũng có đài phát thanh và truyền hình. Quan trọng hơn, với đặc điểm dân số trẻ, tỉ lệ người Việt sử dụng Internet, nhất là mạng xã hội, đang thuộc loại cao của thế giới.

Nếu xét về ‘phổ’ của nội dung, truyền thông xã hội của Việt Nam cũng thuộc loại lớn: nó có đủ loại thông tin, từ ‘chính thống’, như văn hoá, tôn giáo, chính trị, khoa học, thiên nhiên, cho đến những thông tin ‘lá cải/giật gân’, như cướp giật, bói toán, đánh bạc, chuyện lạ,…

Về mặt định hướng, truyền thông xã hội ở Việt Nam hiện rơi vào hai thái cực: hoặc được/bị định hướng rất chặt theo một mục đích nhất định (như về mặt chính trị), hoặc hoàn toàn không có định hướng (như phần lớn thông tin trôi nổi trên mạng xã hội).

Về mục tiêu và phương hướng sử dụng của người dùng: rất đa dạng! Ở đây tôi chỉ xét về mạng xã hội: tìm kiếm thông tin bên ngoài vì không tin tưởng hoàn toàn vào thông tin ‘chính thống’ của nhà nước; kết bạn; nhu cầu thể hiện và muốn được thừa nhận về bản thân (đặc biệt qua hiện tượng ‘câu like/câu view’); giao dịch làm ăn (như bán hàng online); giải trí; dùng thông tin để lừa đảo; tò mò tìm hiểu về những thông tin ‘lạ, giật gân’, vv.

Thực trạng đó đưa đến hệ quả gồm hai viễn tượng:

Về mặt tích cực: nếu được sử dụng hợp lý, rõ ràng truyền thông xã hội mang lại những ích lợi cụ thể theo mục tiêu của người sử dụng. Hơn nữa, sự phong phú của thế giới truyền thông ‘mở ra’ cho ta thấy một chân trời rộng lớn của cuộc sống, của thế giới: cuộc sống không chỉ bó hẹp trong công ăn việc làm, cũng không giới hạn trong những thông tin khoa học, mà còn bao nhiêu khía cạnh khác: tâm linh, văn hoá, tự nhiên, vv. Do đó, nếu được thực thi với một phương thức phù hợp, truyền thông xã hội hiện nay có thể mang đến một điều kiện tuyệt vời để giúp con người vượt qua não trạng hẹp hòi, duy khoa học kỹ thuật của thời đại: não trạng cho rằng chỉ có những thông tin mang tính khoa học kỹ thuật mới có giá trị đối với đời sống con người. Với não trạng này, đời sống bị đóng khung trong những ‘bức tường’ của các chỉ số toán học và định lượng khoa học do lý trí vạch ra, nên con người đánh mất khả năng mở ra với nhiều điều khác; đánh mất sự ngạc nhiên, sự nhạy bén trước bao nhiêu điều lớn lao khác: những gì thuộc ý thức về sự linh thánh, niềm hy vọng về đời sống siêu nhiên, vv. Vì thế, sự phong phú của nguồn lực truyền thông có thể giúp chúng ta nhận ra rằng: cuộc sống lớn lao hơn những gì bị khuôn ép trong cái khung hẹp hòi mà bấy lâu nay ta mặc định.

Về mặt tiêu cực: thực trạng trên đã đem đến những điều tiêu cực trên thực tế. Thật vậy, tuy đã nói ở phía trên rằng mục tiêu và phương hướng sử dụng truyền thông xã hội ở Việt Nam rất đa dạng, nhưng phải nhấn mạnh rằng: tỉ lệ những người dùng truyền thông vào mục đích vô bổ, hoặc mục đích xấu, dường như cao hơn nhiều so với số người nhắm đến mục đích ích lợi chân chính. Ví dụ, theo thống kê trong nhiều năm của Google, Việt Nam có tỉ lệ người xem phim ‘đen’ cao nhất thế giới[3]; hay việc tràn lan tin giả, tin rác, hay bùng nổ tin dữ, dẫn đến vấn nạn ‘bội thực tin dữ’, khiến bao người bị khủng hoảng tinh thần, đánh mất niềm tin vào sự tốt lành thánh thiện. Ngoài ra, nhiều người rơi vào tình trạng sống ảo, ‘đóng khung’ chính mình trong thế giới mạng, nghĩa là đi ngược lại với bản chất đích thực của truyền thông: thay vì mở ra, họ lại tự ‘đóng’ mình lại.

Đâu là nguyên do của tình trạng tiêu cực trên? Có lẽ có nhiều yếu tố, nhưng theo tôi, nguyên do chính nằm ở sự ‘lệch khớp’ giữa phát triển bùng nổ thông tin và nền tảng văn hoá, giáo dục chưa tương xứng. Thật thế, nếu khiêm tốn và bình tâm, chúng ta phải thừa nhận rằng nền tảng ‘tâm – trí’ của nhiều người Việt ngày nay chưa tương hợp để giúp phân định trong việc sử dụng truyền thông.

Do đó, giải pháp cho những thách đố của truyền thông xã hội ở Việt Nam hệ ở việc phải tìm một định hướng căn bản giúp ta có khả năng phân định và có trách nhiệm với việc trao và nhận thông tin. Theo tinh thần Tin Mừng, thiết nghĩ ta có thể tìm thấy định hướng này từ gương Mẹ Maria.

Gương sống ơn gọi truyền thông của Đức Maria: Định hướng nền tảng của truyền thông xã hội

Trước hết, Mẹ Maria đã rất mẫu mực trong việc tiếp nhận thông tin. Khi được Thiên Thần truyền tin, Mẹ đã đi vào cuộc đối thoại với Thiên Chúa (qua Thiên Thần), để phân định và nhận ra kế hoạch lớn lao mà Thiên Chúa dành cho nhân loại qua Mẹ. Rồi nơi tiệc cưới Cana, Mẹ nhận ra ‘tín hiệu’ rằng chủ nhà đã hết rượu và đang rất lo lắng. Những ví dụ này đã cho thấy Mẹ Maria có một sự nhạy bén, tinh tế và khả năng phân định tuyệt vời. Khả năng đó chỉ ra rằng Mẹ có một nền tảng về tâm và trí thật lớn lao.

Nhưng làm sao mẹ có được nền tảng đó? Thưa, bằng việc lắng nghe người khác ở mức độ thấu cảm, bằng đời sống cầu nguyện, ‘suy đi nghĩ lại trong lòng’, và bằng tâm hồn yêu mến, khiêm cung tìm kiếm và tuân hành ý muốn Thiên Chúa.

Đức Maria cũng đồng thời là một gương mẫu trong việc truyền thông tin. Như được diễn tả trong các sách Tin Mừng, Mẹ rất cẩn trọng trong việc trao-truyền thông tin. Ngay cả khi được lãnh nhận Tin Mừng trọng đại nhất – rằng Thiên Chúa sẽ nhập thể nơi lòng Mẹ – Đức Maria cũng không ‘tài lanh’ – rao truyền ‘vô tội vạ’. Ngược lại, mẹ phân định để biết cần trao truyền thông tin gì, và cho ai, để mưu ích cho họ (trong trường hợp này là cho bà Elizabeth). Hơn nữa, điều cần đặc biệt nhấn mạnh ở đây: thông tin mà Mẹ trao truyền không chỉ đơn thuần là thông tin được nhận từ người này rồi chuyển sang người nọ, mà là thông tin đã được ‘cưu mang’, đã được ấp ủ, được nuôi dưỡng để trở thành Tin Mừng. Và Mẹ cũng không trao truyền thông tin theo kiểu ‘đem con bỏ chợ’; mà ngược lại, Mẹ đến gặp gỡ, chia sẻ và đỡ nâng người được nhận thông tin. Nói cách khác, Mẹ đã rao truyền thông tin bằng chính cả con người mình. Như vậy, với Mẹ Maria, truyền thông không phải chỉ là trao điều gì bên ngoài mình, mà là hiện diện, hiệp thông và trao ban điều Mẹ đã cưu mang, đã sống, và cả chính bản thân mình.

Làm sao Mẹ có được tinh thần trao truyền thông tin như thế? Thưa, vì tình yêu! Tình yêu Thiên Chúa và niềm vui Tin Mừng đã trào tràn nơi Mẹ; và tự bản chất, Tình Yêu đó thúc đẩy mẹ trao ban, thông truyền cho người khác, nhưng trao ban theo mục đích và phương thích thích hợp nhất. Rõ ràng, Mẹ Maria đã có một tiêu chuẩn phân định để có thể nhận biết thông tin nào là chân thật, hữu ích, cũng như cần trao truyền thông tin gì, cho ai, theo phương thế nào. Đó là tiêu chuẩn: cho vinh danh Thiên Chúa hơn, và mưu ích lợi cho con người lớn hơn.

Ước gì mỗi người Ki-tô hữu chúng ta biết noi gương Mẹ Maria để có sự khôn ngoan theo Tin Mừng, biết đào luyện lương tâm ngay thẳng, có tình yêu Thiên Chúa và tha nhân thật lớn lao, hầu sống sung mãn ơn gọi truyền thông của cuộc đời mình!

Khắc Bá, S.J.

[1] ĐTC. Phan-xi-cô, Sứ điệp Ngày Truyền Thông Xã Hội thứ 50. Xem tại: http://hdgmvietnam.org/su-diep-cua-duc-thanh-cha-phanxico-cho-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-50/7652.114.3.aspx.


[3] http://www.doisongphapluat.com/xa-hoi/viet-nam-thuoc-top-cac-quoc-gia-tim-kiem-sex-nhieu-nhat-tg-a26116.html.

HẬU CORONA, NGÀY MAI THUỘC VỀ CAIN HAY ĐỨC KITÔ?


Cái bình thường của ngày mai ?

Khi một vài nước Âu Châu đã dần dần nới lỏng cách ly cũng như vài sinh hoạt căn bản trên nhiều miền của nước Việt ít nhiều được hoạt động trở lại, thì câu hỏi về tương lai cũng dần xuất hiện trên các phương tiện truyền thông. “Ngày mai, sau khi cơn dịch bệnh đã qua, bạn sẽ làm gì?” Câu hỏi này, dù vẫn chưa ra khỏi cái chập chờn của tình trạng mơ ước, nhưng đã tượng hình cho cách nghĩ của từng người chúng ta về tương lai.

Cách đây vài hôm, một tờ báo online đã làm một phóng sự nhỏ, hỏi vài người dân sau khi hết cách ly họ sẽ làm gì trước tiên. Trong các câu trả lời, có những mong mỏi hết sức đơn giản, như đi hớt tóc, đi mua hàng bình thường, trở về quê thăm gia đình, thăm cha mẹ già, được đến trường với bạn bè. Người thường là thế! Nhưng còn những câu trả lời có tính quyết định hơn. Giả như câu hỏi này nếu được dành cho những người cầm bánh lái một đất nước thì sao? Chắc không nhà lãnh đạo nào không mong muốn đưa đất nước họ ra khỏi suy thoái kinh tế và bất ổn xã hội, để đà phát triển được tái thiết.

Tuy nhiên, bằng cách nào cho tương lai … mới là yếu tố quan trọng. Câu hỏi này thật ra là một dị bản của một câu hỏi khác, có màu sắc “tự phê bình” hơn: nhân loại, hiểu như là từng cộng đồng quốc gia, từng gia đình, từng con người, đã rút ra được bài học gì cho tương lai từ thử thách mang tên corona này. Với trách nhiệm trước cộng đồng dân tộc và quốc tế, nhiều nguyên thủ đã đăng đàn, mở màn cho những cảm hứng về tương lai. Dưới đây là một ví dụ. Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier đã đọc những dòng sau đây vào buổi tối thứ Bảy Tuần Thánh, trong đêm trước ngày lễ Phục Sinh:

“Chúng ta đều khao khát trở về cái bình thường. Nhưng thật ra điều đó nghĩa là gì ? Có phải là về lại những thói quen, những quanh đi quẩn lại ngày cũ càng nhanh càng càng tốt? Không, thế giới của ngày mai phải là một điều gì khác. Nó sẽ thế nào? Điều ấy nằm trong vòng tay chúng ta. Chúng ta hãy học từ những kinh nghiệm, tốt cũng như xấu mà chúng ta đã trải qua trong cơn khủng hoảng này.

Tôi tin rằng chúng ta đang đứng trước một giao lộ. Thật ra ngay cả trong cơn khủng hoảng, chúng ta đã thấy được cả hai hướng mà chúng ta có thể chọn lựa rồi. Hoặc là mỗi người sẽ vì mình, tự xắn tay áo, chụp giựt để lôi con cừu mắc nạn của mình vào nơi an toàn? Hay là tiếp diễn những dấn thân dành cho tha nhân, dành cho xã hội mà cơn dịch này mới hâm nóng lại cho ta? Sẽ vẫn còn tiếp tục không những sáng tạo và sẳn sàng giúp đỡ đầy bộc phát mà ta đang thấy những ngày này ? Chúng ta sẽ tiếp tục giữ liên lạc với người hàng xóm già mà chúng ta đã đi mua đồ giúp ? Chúng ta vẫn tiếp tục bày tỏ những trân trọng dành cho người chị thu ngân hay anh giao hàng như đã làm trong những ngày qua ? Và còn nhiều nữa: sau cơn dịch, chúng ta có tiếp tục nhớ đến những người làm công việc không thể thiếu được, như điều dưỡng, săn sóc, những người làm vệ sinh công cộng, công tác xã hội, nhà trẻ hay trường học không? Có chân nhận giá trị của những lao động của họ nhiều hơn không? Liệu những doanh nghiệp vốn đứng vững sau cơn dịch sẽ giúp những doanh nghiệp bị tổn thất nặng đứng lại trên đôi chân của mình không?”

Thế giới hiện đại, sau vài tuần bị đặt vào tình trạng #stayhome – “sống tại gia” đã khao khát được quay lại cái bình thường, quay lại bản chất homo viator – con người dịch chuyển, quay lại bản chất homo laboris – con người làm ăn sinh sống của mình. Đây đó người ta đã phải biểu tình và gào thét đòi chính phủ phải nới lỏng lệnh “ngăn sông cấm chợ” để được đi làm, sinh hoạt cộng đồng, để thoát khỏi chế độ sống thoi thóp. Có nơi khác thì ao khát ấy được diễn tả cách im ắng hiền hoà hơn. Dân tộc lớn thì giải cứu gói tỉ đô, dân tộc nhỏ lặng lẽ đi nhặt nhạnh lại những gì còn sót lại trong phần dự trữ lại của ngân sách từ nền kinh tế yếu ớt của mình.

Có lẽ chính thế giới toàn cầu hoá như đã từng thấy cho đến nay, vốn đã tiếp tay cho sự tăng tốc và phát tán của con virus tai hoạ kia, cũng đang mò mẫm tìm một phiên bản mới cho tình trạng toàn cầu hoá hậu corona cho mình. Hơn bao giờ hết, toàn cầu hoá, một lần nữa lại là một thách đố và một cơ hội mới. Nói như ông Steinmeier, chúng ta hoàn toàn có tự do để chọn một mô hình thế giới hậu corona. Hoặc là lấy lại ngày cũ trước tai hoạ hoặc phát huy bản chất con người sáng tạo của mình như là những ông chủ xứng đáng của tương lai. Từ góc độ Kitô giáo, hình ảnh của cách cũ và cách mới ấy có thể được thể hiện qua hình ảnh Cain, kẻ giết em mình hay Đức Kitô phục sinh, Đấng làm cho mọi sự tái sinh trong mầu nhiệm Thiên Chúa.

Toàn cầu hoá “cạnh tranh” hay toàn cầu hoá “liên đới”?

Hai hình ảnh của Cain và Christus, đến từ Kitô giáo, lại không nên bị bó hẹp từ góc nhìn tôn giáo. Đúng hơn, hai hình ảnh này có thể đóng vai trò biểu tượng cho chọn lựa của cộng đồng nhân loại trong việc xây dựng tương lai của mình. Với hình ảnh Cain, ta tự hỏi liệu có thể sẽ xảy ra một kịch bản buồn, khi những tất cả các nền kinh tế, dù còn là cộng sản hay tư bản, thế giới thứ nhất hay thứ ba, vốn đã bị bầm dập vì cơn dịch, sẽ lại lên cơn manh động, mong tái lập lại càng nhanh càng tốt sức mạnh của mình bằng mọi giá, kể cả sát hại những kẻ láng giềng bé nhỏ vốn cũng bị thương tổn về kinh tế không kém. Hình ảnh kẻ giết em mình vốn không lạ gì trong môi trường cạnh tranh bình thường, lại sẽ là một cơn cám dỗ không nhỏ để người ta bứt phá, lấy lại thế thượng phong ngày cũ. Người ta sẽ quay lại với chủ nghĩa bảo hộ kinh tế, chủ nghĩa cô lập và đặt lợi ý kinh tế-chính trị của mình trên hết, để lại vấn đề chung của cộng đồng nhân loại trong tình trạng “thả rông” hoặc “vô chủ”. Còn trong lối nghĩ vi mô, ai dám chắc rằng mình sẽ không rơi lại kiểu sống thói quen hưởng thụ và tiêu dùng, hoặc trong lòng vẫn theo đuổi một quan niệm kinh tế cạnh tranh và duy lợi nhuận bất chấp của ngày cũ.

Câu hỏi trong câu chuyện từ Kinh Thánh dành cho Cain sau khi giết chết em mình: “Em ngươi đâu?” là lời cảnh tỉnh mãnh liệt cho các nền kinh tế và văn hoá trong tương lai. Sau cơn bão dịch, tất cả đều mệt lả và yếu đau. Chúng ta sẽ cố gắng giúp nhau gượng dậy, từng chút một hay dùng sức mạnh còn nhiều hơn của mình để đập đầu đứa em không thể kháng cự được nữa kia ?

Đối lập với hình ảnh “sát đệ” của Cain, thần học Kitô giáo coi việc Chúa Giêsu chết và sống lại là nền tảng của mọi quan niệm và hành vi ứng xứ của người tín hữu. Những ngày mà hầu như toàn thế giới phải sống trong tình trạng cách ly lại rơi vào tuần người Kitô hữu kỷ niệm sự đau khổ, cái chết và sống lại của Đấng Sáng Lập tôn giáo của họ. Đó là một sự trùng hợp có ý nghĩa. Sự phục sinh của Chúa Giêsu là biểu tượng cho người kiến tạo một nền huynh đệ mới, nơi mọi quan hệ của họ với thiên nhiên, với nhau được thẩm thấu và bao bọc trong sự tốt lành và tình yêu vô biên của Đấng tối cao. Sau khi sống lại, Chúa Giêsu mời gọi những môn đệ của ông đi về tương lai, cùng nhau, và hướng lòng về những giá trị bền vững. Một trong những câu nói của Chúa Giêsu là “Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày đến tận thế.”

Với Chúa Kitô, tương lai là sự hiện diện trung thành, tôn trọng bước đi về tương lai của từng thành viên nhưng đồng hành, đế ý đến nhau. Hình ảnh tương lai mà tôn giáo này cưu mang là thiên đàng. Thiên đàng sẽ không xảy đến nếu người ta “đơn thân độc mã” tìm kiếm nó, và lại càng xa vời với những thái độ kinh tế, chính trị, xã hội bắt nạt hay lợi dụng. Hãy đọc thêm vài dòng của ông Steinmeier:

“Chúng ta sẽ cùng nhau đi tìm một giải pháp mới cho thế giới hay chúng ta rơi lại vào sự cố thủ hay đi một mình ? Chúng ta sẽ chia sẻ cho nhau những tiến bộ trong nghiên cứu và hiểu biết để sớm tìm ra thuốc ngừa hay phác đồ điều trị, và chúng ta sẽ cùng nhau tạo nên một liên minh toàn cầu để cả những nước nghèo nhất và dễ tổn thương nhất cũng không bị bỏ rơi. Không, đại dịch này không phải là một cuộc chiến. Nước này không đứng lên chống nước kia, lính xứ này không đánh lính xứ khác. Đúng hơn cơn dịch này là một phép thử cho nhân loại. Nó phơi bày cái cao cả nhất cũng như cái hèn mọn nhất của con người. Nhưng chúng ta hãy chọn để cho nhau thấy cái phần cao cả nhất của chúng ta cho nhau!”

Kitô giáo sẽ không có một hướng đi nào khác cho thế giới hậu corona ngoài hình ảnh của Chúa Giêsu Phục Sinh, là hình ảnh của con người chọn phần tốt nhất và cao cả nhất từ nhân tính của mình để cộng sinh. “Trời mới đất mới” mà Kitô giáo quan niệm là sự nỗ lực không ngừng của cộng đồng nhân loại để tiếp tục sống với nhau trong sự đùm bọc của thiên nhiên, không theo kiểu “terminator” – kẻ huỷ diệt, nhưng như “generator”, – người cưu mang và hạ sinh người khác từ lòng thương cảm vô điều kiện và trí thông minh ngay thẳng của mình.

Khi “corona” trở thành “vương miện” của tình người

Khi tôi chia sẻ góc nhìn hậu corona từ hình ảnh Cain và Christus cho một người bạn, anh trả lời rằng thế giới không chỉ hoàn toàn là Cain và thế giới cũng chưa thấm hết tinh thần của Christus đâu. Tôi nghĩ anh ấy có lý. Thế giới không chỉ là trắng và đen nhưng còn là sự dịch chuyển phức tạp và tinh tế giữa hai cực ấy. Nhưng dù sao, đóng góp của Kitô giáo về hướng đi cho cộng đồng thế giới sau đại dịch thì đã rõ.

Nếu trong những tháng vừa qua, con virus nhỏ bé hình vương miện đã nhấn chìm nhân loại xuống dòng nước đen ngòm của suy thoái, bệnh tật và chết chóc, thì nó cũng là cớ để cộng đồng con người tìm cho mình sự chiến thắng mới của tình bác ái đại đồng. Cái chết của hàng trăm ngàn người trong cơn dịch bệnh này là những viên kim cương, họ mong chúng ta gìn giữ họ trong ký ức, để lương tâm chúng ta, trong mọi chính sách kinh tế, khoa học kỹ thuật, chính trị xã hội và văn hoá, đều được soi sáng, lấp lánh sự liên đới, thông cảm và tình thương.

Bùi Quang Minh, S.J.

MỤC VỤ TRUYỀN THÔNG SÀI GÒN