Thứ Năm, 21 tháng 11, 2019

LƯƠNG TÂM

Ngày nay, đang khi có rất nhiều cuốn sách hướng dẫn các phương thế giúp con người đạt đến sự thành công thuộc mọi lãnh vực khác nhau của cuộc sống lần lượt được ra đời, thì những tác phẩm bàn về “lương tâm”_ Một chuẩn mực luân lý cao đẹp nhất, tất yếu nhất làm nên giá trị thành công bên trong của con người lại chiếm tỉ lệ hết sức khiêm tốn và dường như không ai để ý. Đây là dấu hiệu cho thấy “lương tâm” dần trở thành vấn đề khá nhạy cảm nơi con người và xã hội. Dẫu vậy, luân lý Ki-tô giáo vẫn hằng nhắc nhở và giải thích cho con cái mình với quan điểm tôn trọng rõ ràng về hai tiếng “lương tâm”. Nhưng, tại sao luôn có sự căng thẳng giữa lương tâm (luật bên trong) và lề luật (luật bên ngoài)? Tại sao con người luôn phải hành động theo lương tâm chắc chắn, ngay cả khi nó sai lầm (bất khả thắng)? Để có được một lương tâm đúng đắn, trưởng thành, con người cần phải làm thế nào?
Công đồng Vatican II cho rằng: “Con người khám phá ra tận đáy lương tâm một lề luật mà chính con người không đặt ra cho mình, nhưng vẫn phải tuân theo, và tiếng nói của lương tâm luôn luôn kêu gọi con người phải yêu mến và thi hành điều thiện cũng như tránh điều ác. Tiếng nói ấy âm vang đúng lúc trong tâm hồn của chính con người: Hãy làm điều này, hãy tránh điều kia. Quả thật con người có lề luật được Chúa khắc ghi trong tâm hồn. Tuân theo lề luật ấy chính là phẩm giá của con người và chính con người cũng sẽ bị xét xử theo lề luật ấy nữa. Lương tâm là tâm điểm sâu kín nhất và là cung thánh của con người, nơi đây con người chỉ hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Ngài vang dội trong thâm tâm họ. Nhờ lương tâm, lề luật được thực hiện trong sự yêu mến Thiên Chúa và anh em, và được biểu lộ cách kỳ diệu” 
Như vậy, có thể nói lương tâm là nơi sâu thẳm nhất của con người, tiếng nói của lương tâm là một phán quyết luân lý về các hành vi của con người có phù hợp hay không với Luật Chúa. Nhờ đó, con người nhận biết điều tốt, xấu của một hành động cụ thể phải thi hành ngay lúc này hay đã thực hiện trong quá khứ. Mỗi người đều phải tuân theo chỉ thị của lương tâm vì đó là tiếng nói cuối cùng mà con người có thể nghe được Lời của Thiên Chúa. Bởi thế, con người có quyền lợi và nghĩa vụ tuân theo tiếng nói của lương tâm
Lương tâm bắt nguồn từ tự do nội tại của mỗi người nên họ có quyền lựa chọn làm và sống với những điều bản thân cho là thiện, đúng, thật. Trong mối quan hệ với lề luật thì lương tâm là cơ sở của lề luật. Tuy nhiên, giữa lương tâm và lề luật luôn có sự căng thẳng với nhau vì lề luật mang tính phổ quát và những nguyên tắc khách quan của luân lý, nó quyết định một cách chung điều tốt phải làm và điều xấu phải tránh (vd: Đã uống rượu thì không lái xe); trong khi lương tâm quyết định cách riêng cho từng trường hợp cụ thể, vốn phức tạp tùy theo tình huống, lương tâm dựa trên những nguyên tắc khách quan để quyết định xem một việc nên làm hay nên tránh (vd: Mồng 1 tết, A gặp người bị tai nạn giữa đường mà không ai giúp. A biết mình vừa uống rượu, nhưng đủ tỉnh táo để lái xe, nên lấy xe chở người đó tới bệnh viện.)
Người ta sẽ tự hỏi, nếu con người luôn hành động tự do theo lương tâm mình thì liệu lương tâm của con người có hoàn toàn đúng để hướng dẫn mọi hành động hay không? Câu trả lời sẽ là: Không phải lúc nào phán đoán của lương tâm cũng đúng và đáng tin cậy. Có nhiều trường hợp lương tâm trở nên chai lì và lệch lạc do chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố thể lý, tâm lý, môi trường xã hội, văn hóa, và thiếu hiểu biết trong tôn giáo (về Ðức Ki-tô và Tin Mừng; gương xấu của người khác; nô lệ các đam mê; nghĩ sai lạc về tự do lương tâm; khước từ quyền bính và giáo huấn của Hội Thánh; thiếu hoán cải và bác ái) khiến con người có thể mắc sai lầm trong phán đoán một cách dễ dàng. Nhưng điều quan trọng nằm ở chỗ sai lầm ấy khả thắng hay bất khả thắng. Trong trường hợp lương tâm sai lầm bất khả thắng, con người không vì đó mà mất đi phẩm giá và lương tâm hết giá trị. Nó vẫn là tiêu chuẩn gần cho hành động luân lý, bởi vì trong thực tế, lương tâm đang uốn chủ thể hành vi theo một chiều hướng lệch ra ngoài trật tự luân lý khách quan, thì lương tâm vẫn không ngừng lên tiếng nhân danh chân lý về điều thiện mà chủ thể được mời gọi tìm kiếm cách chân thành (vd: Một người nghĩ rằng hôm nay là ngày lễ trọng buộc, mặc dù sự thật không phải là ngày lễ trọng buộc, nếu người đó không đi lễ thì vẫn mắc tội). Theo lẽ đó, họ luôn phải hành động theo lương tâm chắc chắn, ngay cả khi nó sai lầm. Tuy nhiên, không thể nói như vậy khi con người ít lo lắng tìm kiếm điều chân và điều thiện, hoặc vì thói quen phạm tội mà lương tâm dần dần trở nên mù quáng.
Luôn phải đối diện với nhiều nguy cơ biến dạng, đảo chiều, cho nên sự trưởng thành của lương tâm không có điểm dừng. Nó trải dài suốt cuộc đời con người. Ý thức về khả năng sai lầm của lương tâm, đòi hỏi mỗi người cần được giáo dục và học hỏi thêm qua các phương thế tự nhiên và siêu nhiên.
Trước hết, phương thế tự nhiên gắn liền với thời gian đào tạo, nuôi dưỡng và làm tăng trưởng lương tâm cho con người ngay từ nhỏ, nhưng sẽ chưa đủ nếu chỉ dừng lại trong giai đoạn ấu thơ và thiếu niên. Bởi vì trong giai đoạn tuổi trẻ, trung niên, lão thành, những vấn đề mới luôn được đặt ra trên nhiều phương diện, nhiều khía cạnh. Con người phải được hiểu biết nhiều hơn về những giá trị của sự sống, tình yêu, hôn nhân, gia đình, xã hội cách thường xuyên và thích nghi. Môi trường sống như gia đình, học đường, xã hội cũng có tác động không nhỏ làm cho con người trưởng thành trong việc nhận thức luân lý và rèn luyện lương tâm. Sống trong môi trường tốt, con người sẽ trở nên tốt, nhưng ở nơi lương tâm không được chú ý, tôn trọng và đề cao (yêu mến và thực hành điều thiện) thì hẳn nhiên, nó sẽ không bao giờ phát triển.
Thứ đến, phương thế siêu nhiên mời gọi con người lắng đọng tâm hồn giữa những xáo động, ồn ào và thay đổi của thế giới thực dụng để cầu nguyện, hồi tâm, xét mình. Đây là giờ phút linh thiêng cho cá nhân đi vào cuộc gặp gỡ thâm sâu với Đức Kitô (nhờ ơn Chúa Thánh Thần tác động), họ sẽ nhìn thấy mình cách chân thực nhất, có được sự biện phân đúng đắn trong lương tâm về những điều tốt, điều xấu mình đã làm, đang làm và sẽ làm. Bên cạnh đó, để lương tâm con người được trong sáng, không bất chính, không sai lầm, không phóng túng, không chật hẹp và giả hình, con người hãy học cách lắng nghe Lời Chúa trong Thánh Kinh cũng như qua các hướng dẫn của Hội Thánh. Chính Lời Chúa sẽ đào luyện lương tâm con người và sự trung thành chiến đấu của con người với các đam mê, trào lưu tục hoá và khuynh hướng hưởng thụ…tất cả những gì làm cho họ dần mất đi cảm thức về tội là điều không thể thiếu. Hơn nữa, khi con người năng đến với các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Sám hối, thì những thiếu sót, lỡ lầm trong lương tâm con người sẽ dần được sửa đổi. Đến với Bí tích Sám hối khi mắc tội trọng, kể cả những lúc chỉ mắc tội nhẹ, luôn giúp cho việc xét đoán của lương tâm được bén nhạy, chống lại những xu hướng thấp kém xấu xa, và tiến bộ trong đời sống tinh thần. 
Xét cho cùng, Giáo hội luôn tôn trọng sự tự do của lương tâm con người như cách Thiên Chúa đang tôn trọng phẩm giá mỗi người do chính Ngài tạo nên. Vì vậy con người có quyền tự do để hành động theo lương tâm của mình. Không ai có quyền ngăn cản, gượng ép một người đi ngược với xác tín của họ. Cũng thế, phán quyết của một lương tâm tự do thì luôn tiềm ẩn nguy cơ sai lầm và có sự căng thẳng với lề luật. Nhưng điều quan trọng hơn hết vẫn là lời mời gọi con người hãy đào luyện lương tâm trong suốt đời sống của mình, để cho lương tâm ấy không phải là thụ động làm theo luật pháp và phong tục một cách máy móc, mà là một lương tâm được cá vị hóa (được biến đổi từ cái bên ngoài thành cái bên trong, khởi đi từ lương tâm độc đoán tới một lương tâm trưởng thành), một lương tâm không chỉ biết “phải làm gì, cần làm gì”, nhưng còn là biết “nên làm gì”. Qua đó, con người thực sự phát huy được cách tốt nhất những giá trị sống vì, sống với mọi người xung quanh.





Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2019

ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG

Ngày nay, xã hội càng văn minh, càng dồi dào vật chất, càng ê hề hưởng thụ, thì dường như nhu cầu tâm linh của con người ngày càng mãnh liệt hơn. Nhiều giáo phái ra đời, nhiều người tìm về những gì là tín ngưỡng, là tâm linh, là tôn giáo; đặc biệt, người ta khát khao những giá trị như là cầu nguyện, tĩnh lặng, thiền định… Đó là những dấu chỉ khao khát hạnh phúc, khao khát sự trường tồn, bất tử, nhưng không phải ai cũng đạt được. Theo đó, những cuộc đồng hành thiêng liêng đóng vai trò rất quan trọng trong việc nối lại những mảnh vụn giữa đời sống vật chất với đời sống tâm linh của con người. Đây cũng là một thách đố lớn đối với những người thi hành sứ mạng này: Làm sao giúp cho người thụ hướng có được sự gặp gỡ đích thực với chính Thiên Chúa, chứ không chỉ dừng lại ở những tình cảm hời hợt chóng qua, hay một mớ lý thuyết cao siêu huyền bí? Có thể nói, công việc đồng hành thiêng liêng vừa khơi mở, vừa kiện toàn đời sống tâm linh không chỉ cho người thụ hướng, nhưng còn cho chính bản thân người làm công tác hướng dẫn, đồng hành. Vì vậy, để thi hành sứ vụ cách tốt nhất thì những tiêu chuẩn mà một người đồng hành cần có chính là kiến thức, sự khôn ngoan và kinh nghiệm.
 Trước tiên, không ai đòi hỏi vị đồng hành phải là học giả uyên thâm, hay phải là nhà thần học; nhưng nếu những vị đồng hành không có nền tảng vững chắc về thần học, Thánh kinh, hay những kiến thức liên quan khác, khiến họ không thể nhận thức được sai lầm trong đời sống đức tin, luân lý, cách thực hành nhân đức của người thụ hướng, sẽ dẫn đến những tình trạng nghiêm trọng hơn. Do vậy, vị đồng hành phải được trang bị kiến thức căn bản về thần học tín lý, luân lý, tâm linh và cả tâm lý qua việc hiểu biết ít là những nét sơ quát về về tính khí, khuyết điểm, sở thích, khả năng và nghị lực; đặc biệt là quá khứ, môi trường sống, môi trường giáo dục của người mình đang đồng hành.
Thứ hai, nhờ khôn ngoan, vị đồng hành có thể đưa ra những hướng dẫn rõ ràng minh bạch, không mâu thuẫn, không xác tín một đàng khuyên lơn một ngả, không thiên vị, không nhu nhược; biết lúc nào cần nâng đỡ, cảm thông an ủi; lúc nào cần phải nghiêm khắc, cứng rắn. Những hướng dẫn trên không lấn át quyền tự do của người thụ hướng, mà chỉ là những soi sáng cần thiết giúp người thụ hướng khám phá ra nẻo đường tự do trong tương quan đích thực với Thiên Chúa.
 Sự khôn ngoan của người đồng hành không dừng lại ở đó, nhưng khôn ngoan còn là theo dõi, giám sát tiến trình tâm linh của người thụ hướng. Vì, chưa hẳn mọi điều người thụ hướng nói đều là sự thật; có thể họ bị trật đường buông xuôi khi sao lãng với các bổn phận thiêng liêng; xen vào cuộc đồng hành những vấn đề của trần thế hay người khác; hoặc cũng có thể vì quá nhiệt tình mà ăn chay, cầu nguyện, hãm mình đến độ kiệt sức. Tuy nhiên, để kéo họ trở về với mục đích thiêng liêng vị đồng hành vừa phải thể hiện tính nghiêm túc, cứng rắn, vừa phải bày tỏ lòng bao dung độ lượng, để làm sao người được sửa lỗi không thấy mình bị tổn thương mà vẫn cảm nhận được sự cảm thông, yêu mến; vượt qua được những giới hạn của mình mà không bị dồn nén, ép buộc. Ngay trong tiến trình giám sát, việc giữ bí mật cho người thụ hướng cũng là bổn phận người đồng hành phải nghiêm túc chu toàn: không chỉ vì những điều thuộc toà trong, nhưng còn phải giữ với bất cứ lý do gì, kể cả khi người thụ hướng cho phép, vị đồng hành cũng không được tiết lộ những gì mình biết được về họ qua cuộc gặp gỡ thiêng liêng.
Để có thể nhận ra đâu là thần khí Thiên Chúa, đâu là thần khí ma quỷ, và đâu là thần khí con người, người đồng hành cũng cần phải khôn ngoan khi phân tích những biểu hiện và tình trạng nội tâm của người thụ hướng. Hơn nữa, họ không bao giờ cho phép lấy mình làm tiêu chuẩn để hướng dẫn người khác. Họ chỉ làm theo thánh ý Thiên Chúa, sẵn sàng để Người dạy dỗ và hướng dẫn mà không nôn nóng đốt cháy giai đoạn; không dễ dàng cho người khác lời khuyên hoặc chỉ đưa ra lời khuyên khi nắm hiểu hoàn toàn vấn đề của đương sự và biết chắc người kia không thể tự mình quyết định. Tuỳ hoàn cảnh, điều kiện, tuổi tác, phái tính, bậc sống, mức độ tăng trưởng tâm linh của mỗi người mà có thể cho người thụ hướng những chỉ dẫn phù hợp. Những lời khuyên tập trung vào đời sống tâm linh, đời sống Kitô giáo, đời sống đức tin qua vai trò soi sáng, gợi mở và không quyết định thay cho người thụ hướng.
Một số gợi ý trên đây chưa làm nên sự phân định trọn vẹn. Vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ cho Thánh Thần hoạt động và cho khát vọng tìm kiếm của con người. Nghĩa là người đồng hành phải nhận ra và giúp cho người thụ hướng nhận ra Thánh Thần đang hoạt động trong họ, để họ ngoan ngoãn bước theo đường lối Thánh Thần hướng dẫn, và can đảm thực thi thánh ý Thiên Chúa. Người đồng hành phải xác tín rằng mình chỉ là khí cụ trong tay Thiên Chúa, chính Người mới là vị đồng hành đích thực. Nhờ việc vượt qua được những tham vọng muốn cung cấp cho người thụ hướng của mình những chỉ dẫn cặn kẽ, những giải pháp cụ thể và hữu hiệu tức thời trước những khó khăn hay là cung cấp những kỹ thuật để người thụ hướng nên thánh cấp tốc, người đồng hành tìm cách lắng nghe tiếng Chúa, nhận ra sự hiện diện và hướng dẫn từng con cái của Người.
Kinh nghiệm là tiêu chuẩn cuối cùng và cũng là một trong những phẩm tính quý giá nhất của vị đồng hành. Ngay cả khi vị đồng hành kém hoàn chỉnh về kiến thức, thậm chí chưa khôn ngoan đủ, thì kinh nghiệm có thể bù đắp cho những thiếu sót này. Kinh nghiệm của vị đồng hành có thể bắt nguồn từ chính đời sống tâm linh của bản thân, cũng có thể do quan sát và sự chỉ dẫn của người khác. Một khi vị đồng hành có kinh nghiệm về cầu nguyện, chiêm niệm, về việc lắng nghe và gặp gỡ Chúa, về những khoảnh khắc dường như Chúa vắng mặt, những khao khát và chán nản, thành công và thất bại, ân sủng và tội luỵ… thì điều họ chia sẻ cho người thụ hướng không phải là viển vông, lý thuyết, nhưng là những cảm nhận sống động. Và nhờ kinh nghiệm về chính mình vị đồng hành trở nên bao dung với những yếu đuối, sai phạm, hoặc những kinh nghiệm không hay của người khác.
Dĩ nhiên, không phải vị đồng hành nào cũng có được kinh nghiệm sống động như thế, và không nhất thiết ai cũng phải trải qua kinh nghiệm của chính bản thân mình; hơn nữa, nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm của bản thân, thì việc hướng dẫn đôi lúc sẽ trở nên chủ quan, phiến diện. Do đó, vị đồng hành cần phải thu tích kinh nghiệm nhờ tiếp xúc với hoàn cảnh sống cụ thể của họ bằng lòng nhiệt thành vô vị lợi, giúp người thụ hướng thiết lập mối tương giao. Đặc biệt, để họ có thể tin tưởng bộc lộ tâm hồn mình, việc lắng nghe đương sự không chỉ bằng đôi tai, nhưng bằng cả trái tim là điều quan trọng. Vị đồng hành cũng có nhiệm vụ phải gieo vào lòng người thụ hướng thái độ tích cực: Không phải là hối hận, đau khổ, tự ty mặc cảm, buông xuôi thất vọng; nhưng là tin tưởng, bằng an, cảm nhận được tình thương, sự tha thứ, và dám coi những đổ vỡ đó như cơ hội để khám phá ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời mình, ngay trong những điều tệ hại nhất của mình, nhận ra kế hoạch của lòng thương xót, và để cho lòng thương xót chữa lành.
Tóm lại, xét về bản chất, đồng hành thiêng liêng là một nghệ thuật, người ta có thể thủ đắc nhờ việc học hỏi, rút tỉa kinh nghiệm; tuy nhiên, đây không chỉ thuần tuý là sự cố gắng hay tài khéo của con người, nhưng còn là một đặc sủng, một ân ban đến từ Thiên Chúa. Một khi ý thức mình chỉ là dụng cụ của Thiên Chúa, vị đồng hành không nên tham vọng có thể giải quyết được mọi vấn đề của kiếp nhân sinh; và như vậy không được để người thụ hướng chỉ dừng lại nơi mình, nhưng nhờ tri thức, sự khôn ngoan phân định và kinh nghiệm, phải giúp họ gặp gỡ chính Thiên Chúa_ Người chính là lý tưởng, là cùng đích để mọi người vươn tới, với xác tín rằng Người luôn đồng hành, dẫn đưa chúng ta về với Thiên Chúa Cha. Chỉ trong Người tâm hồn chúng ta mới hết khắc khoải, mới được nghỉ an; và lúc bấy giờ trong ánh sáng và sự thinh lặng đầy tràn, cuộc đồng hành thiêng liêng hoàn toàn hiển lộ.

Thứ Tư, 25 tháng 9, 2019

LỚP HỌC TRUYỀN THÔNG



TRUNG TÂM MỤC VỤ SÀI GÒN KHAI GIẢNG 

KHÓA MỤC VỤ TRUYỀN THÔNG 2019


“…ước mong mỗi Kitô hữu có thể sử dụng phương tiện truyền thông như một cách thế hữu hiệu để truyền tải sứ điệp Tin Mừng cho thời đại.” là lời của linh mục Vũ Hữu Hiền khi nói về khóa Mục vụ Truyền thông tại Giáo phận trong năm nay. 

Khóa Mục vụ Truyền thông tổng quan 2019 đã chính thức bước vào tiết học đầu tiên lúc 18g30, tức thứ 4 ngày 4 tháng 9 năm 2019, tại phòng học truyền thông Trung tâm Mục vụ Giáo phận Sài Gòn.
Khóa học có sự tham gia của 43 học viên đến từ các dòng tu và giáo xứ; ban giảng huấn: Linh mục Giuse Vũ Hữu Hiền, nữ tu Têrêsa Võ Trần Sơn Nữ Duyên Sa cùng Ban Tổ chức Mục vụ Truyền thông Giáo phận.

Hình minh họa
Trong bài giới thiệu, linh mục trưởng ban có đề cập tới chương trình của khóa qua 5 phần chính: Mục vụ truyền thông; mục vụ PR; mục vụ đưa tin; mục vụ mạng xã hội; mục vụ hội nhập. Bên cạnh đó, linh mục cũng nhấn mạnh việc các Kitô hữu có thể sử dụng những phương tiện truyền thông của thời đại như một phương thế hữu hiệu để truyền tải sứ điệp Tin Mừng.

Buổi học kết thúc vào lúc 20g30, trong niềm vui và khơi dậy tinh thần truyền thông nơi mỗi người. Được biết, khóa Mục vụ Truyền thông sẽ kéo dài từ tháng 9 năm 2019 đến hết tháng 5 năm 2020, hứa hẹn nhiều thành quả tốt đẹp nhằm đáp ứng cho nhu cầu mục vụ tại các giáo xứ trong tương lai.

MỤC VỤ TRUYỀN THÔNG SÀI GÒN