Ngày nay, đang khi có rất nhiều cuốn sách hướng dẫn các phương thế giúp con người đạt đến sự thành công thuộc mọi lãnh vực khác nhau của cuộc sống lần lượt được ra đời, thì những tác phẩm bàn về “lương tâm”_ Một chuẩn mực luân lý cao đẹp nhất, tất yếu nhất làm nên giá trị thành công bên trong của con người lại chiếm tỉ lệ hết sức khiêm tốn và dường như không ai để ý. Đây là dấu hiệu cho thấy “lương tâm” dần trở thành vấn đề khá nhạy cảm nơi con người và xã hội. Dẫu vậy, luân lý Ki-tô giáo vẫn hằng nhắc nhở và giải thích cho con cái mình với quan điểm tôn trọng rõ ràng về hai tiếng “lương tâm”. Nhưng, tại sao luôn có sự căng thẳng giữa lương tâm (luật bên trong) và lề luật (luật bên ngoài)? Tại sao con người luôn phải hành động theo lương tâm chắc chắn, ngay cả khi nó sai lầm (bất khả thắng)? Để có được một lương tâm đúng đắn, trưởng thành, con người cần phải làm thế nào?
Công đồng Vatican II cho rằng: “Con người khám phá ra tận đáy lương tâm một lề luật mà chính con người không đặt ra cho mình, nhưng vẫn phải tuân theo, và tiếng nói của lương tâm luôn luôn kêu gọi con người phải yêu mến và thi hành điều thiện cũng như tránh điều ác. Tiếng nói ấy âm vang đúng lúc trong tâm hồn của chính con người: Hãy làm điều này, hãy tránh điều kia. Quả thật con người có lề luật được Chúa khắc ghi trong tâm hồn. Tuân theo lề luật ấy chính là phẩm giá của con người và chính con người cũng sẽ bị xét xử theo lề luật ấy nữa. Lương tâm là tâm điểm sâu kín nhất và là cung thánh của con người, nơi đây con người chỉ hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Ngài vang dội trong thâm tâm họ. Nhờ lương tâm, lề luật được thực hiện trong sự yêu mến Thiên Chúa và anh em, và được biểu lộ cách kỳ diệu”
Như vậy, có thể nói lương tâm là nơi sâu thẳm nhất của con người, tiếng nói của lương tâm là một phán quyết luân lý về các hành vi của con người có phù hợp hay không với Luật Chúa. Nhờ đó, con người nhận biết điều tốt, xấu của một hành động cụ thể phải thi hành ngay lúc này hay đã thực hiện trong quá khứ. Mỗi người đều phải tuân theo chỉ thị của lương tâm vì đó là tiếng nói cuối cùng mà con người có thể nghe được Lời của Thiên Chúa. Bởi thế, con người có quyền lợi và nghĩa vụ tuân theo tiếng nói của lương tâm
Lương tâm bắt nguồn từ tự do nội tại của mỗi người nên họ có quyền lựa chọn làm và sống với những điều bản thân cho là thiện, đúng, thật. Trong mối quan hệ với lề luật thì lương tâm là cơ sở của lề luật. Tuy nhiên, giữa lương tâm và lề luật luôn có sự căng thẳng với nhau vì lề luật mang tính phổ quát và những nguyên tắc khách quan của luân lý, nó quyết định một cách chung điều tốt phải làm và điều xấu phải tránh (vd: Đã uống rượu thì không lái xe); trong khi lương tâm quyết định cách riêng cho từng trường hợp cụ thể, vốn phức tạp tùy theo tình huống, lương tâm dựa trên những nguyên tắc khách quan để quyết định xem một việc nên làm hay nên tránh (vd: Mồng 1 tết, A gặp người bị tai nạn giữa đường mà không ai giúp. A biết mình vừa uống rượu, nhưng đủ tỉnh táo để lái xe, nên lấy xe chở người đó tới bệnh viện.)
Người ta sẽ tự hỏi, nếu con người luôn hành động tự do theo lương tâm mình thì liệu lương tâm của con người có hoàn toàn đúng để hướng dẫn mọi hành động hay không? Câu trả lời sẽ là: Không phải lúc nào phán đoán của lương tâm cũng đúng và đáng tin cậy. Có nhiều trường hợp lương tâm trở nên chai lì và lệch lạc do chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố thể lý, tâm lý, môi trường xã hội, văn hóa, và thiếu hiểu biết trong tôn giáo (về Ðức Ki-tô và Tin Mừng; gương xấu của người khác; nô lệ các đam mê; nghĩ sai lạc về tự do lương tâm; khước từ quyền bính và giáo huấn của Hội Thánh; thiếu hoán cải và bác ái) khiến con người có thể mắc sai lầm trong phán đoán một cách dễ dàng. Nhưng điều quan trọng nằm ở chỗ sai lầm ấy khả thắng hay bất khả thắng. Trong trường hợp lương tâm sai lầm bất khả thắng, con người không vì đó mà mất đi phẩm giá và lương tâm hết giá trị. Nó vẫn là tiêu chuẩn gần cho hành động luân lý, bởi vì trong thực tế, lương tâm đang uốn chủ thể hành vi theo một chiều hướng lệch ra ngoài trật tự luân lý khách quan, thì lương tâm vẫn không ngừng lên tiếng nhân danh chân lý về điều thiện mà chủ thể được mời gọi tìm kiếm cách chân thành (vd: Một người nghĩ rằng hôm nay là ngày lễ trọng buộc, mặc dù sự thật không phải là ngày lễ trọng buộc, nếu người đó không đi lễ thì vẫn mắc tội). Theo lẽ đó, họ luôn phải hành động theo lương tâm chắc chắn, ngay cả khi nó sai lầm. Tuy nhiên, không thể nói như vậy khi con người ít lo lắng tìm kiếm điều chân và điều thiện, hoặc vì thói quen phạm tội mà lương tâm dần dần trở nên mù quáng.
Luôn phải đối diện với nhiều nguy cơ biến dạng, đảo chiều, cho nên sự trưởng thành của lương tâm không có điểm dừng. Nó trải dài suốt cuộc đời con người. Ý thức về khả năng sai lầm của lương tâm, đòi hỏi mỗi người cần được giáo dục và học hỏi thêm qua các phương thế tự nhiên và siêu nhiên.
Trước hết, phương thế tự nhiên gắn liền với thời gian đào tạo, nuôi dưỡng và làm tăng trưởng lương tâm cho con người ngay từ nhỏ, nhưng sẽ chưa đủ nếu chỉ dừng lại trong giai đoạn ấu thơ và thiếu niên. Bởi vì trong giai đoạn tuổi trẻ, trung niên, lão thành, những vấn đề mới luôn được đặt ra trên nhiều phương diện, nhiều khía cạnh. Con người phải được hiểu biết nhiều hơn về những giá trị của sự sống, tình yêu, hôn nhân, gia đình, xã hội cách thường xuyên và thích nghi. Môi trường sống như gia đình, học đường, xã hội cũng có tác động không nhỏ làm cho con người trưởng thành trong việc nhận thức luân lý và rèn luyện lương tâm. Sống trong môi trường tốt, con người sẽ trở nên tốt, nhưng ở nơi lương tâm không được chú ý, tôn trọng và đề cao (yêu mến và thực hành điều thiện) thì hẳn nhiên, nó sẽ không bao giờ phát triển.
Thứ đến, phương thế siêu nhiên mời gọi con người lắng đọng tâm hồn giữa những xáo động, ồn ào và thay đổi của thế giới thực dụng để cầu nguyện, hồi tâm, xét mình. Đây là giờ phút linh thiêng cho cá nhân đi vào cuộc gặp gỡ thâm sâu với Đức Kitô (nhờ ơn Chúa Thánh Thần tác động), họ sẽ nhìn thấy mình cách chân thực nhất, có được sự biện phân đúng đắn trong lương tâm về những điều tốt, điều xấu mình đã làm, đang làm và sẽ làm. Bên cạnh đó, để lương tâm con người được trong sáng, không bất chính, không sai lầm, không phóng túng, không chật hẹp và giả hình, con người hãy học cách lắng nghe Lời Chúa trong Thánh Kinh cũng như qua các hướng dẫn của Hội Thánh. Chính Lời Chúa sẽ đào luyện lương tâm con người và sự trung thành chiến đấu của con người với các đam mê, trào lưu tục hoá và khuynh hướng hưởng thụ…tất cả những gì làm cho họ dần mất đi cảm thức về tội là điều không thể thiếu. Hơn nữa, khi con người năng đến với các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Sám hối, thì những thiếu sót, lỡ lầm trong lương tâm con người sẽ dần được sửa đổi. Đến với Bí tích Sám hối khi mắc tội trọng, kể cả những lúc chỉ mắc tội nhẹ, luôn giúp cho việc xét đoán của lương tâm được bén nhạy, chống lại những xu hướng thấp kém xấu xa, và tiến bộ trong đời sống tinh thần.
Xét cho cùng, Giáo hội luôn tôn trọng sự tự do của lương tâm con người như cách Thiên Chúa đang tôn trọng phẩm giá mỗi người do chính Ngài tạo nên. Vì vậy con người có quyền tự do để hành động theo lương tâm của mình. Không ai có quyền ngăn cản, gượng ép một người đi ngược với xác tín của họ. Cũng thế, phán quyết của một lương tâm tự do thì luôn tiềm ẩn nguy cơ sai lầm và có sự căng thẳng với lề luật. Nhưng điều quan trọng hơn hết vẫn là lời mời gọi con người hãy đào luyện lương tâm trong suốt đời sống của mình, để cho lương tâm ấy không phải là thụ động làm theo luật pháp và phong tục một cách máy móc, mà là một lương tâm được cá vị hóa (được biến đổi từ cái bên ngoài thành cái bên trong, khởi đi từ lương tâm độc đoán tới một lương tâm trưởng thành), một lương tâm không chỉ biết “phải làm gì, cần làm gì”, nhưng còn là biết “nên làm gì”. Qua đó, con người thực sự phát huy được cách tốt nhất những giá trị sống vì, sống với mọi người xung quanh.


